Skip to content

NĐCLNH Úc Châu

Increase font size Decrease font size Default font size default color light color
TÀU SÚP LÊ BA… PDF Print E-mail
Written by Hoài Văn   
Tuesday, 02 April 2013 06:54

                       TÀU SÚP LÊ BA… [1]

                                                             Hoài Văn

                            alt

     Thầy tôi, quê tận Châu Đốc, ra trường Sư phạm Sài Gòn vào năm 1939, được bổ về dạy tại trường Nam Tiểu học Mỹ Tho, lúc bấy giờ gọi là Groupe Scolaire de Mỹ Tho [2]. Ngày Thầy nhậm chức, Thầy đi tàu từ Châu Đốc đến Mỹ Tho. Đến Mỹ Tho, tàu đậu tại cầu tàu mang tên là Cầu Tàu Lục Tỉnh [3] vì nơi đây là bến trung chuyển khách lữ hành từ Sài Gòn đến Mỹ Tho bằng xe lửa [4], để rồi về lục tỉnh tức các tỉnh miền tây bây giờ, bằng tàu.

Ga xe lửa chiếm thửa đất công viên Lạc Hồng ngày nay, còn bến tàu, có hai bến tàu, một ở tại dốc Cầu Quay và một ngoài vàm sông Bảo Định [5] đổ ra sông Củu Long, gần tượng Thủ Khoa Huân bây giờ. Bến tàu hoạt động 24/24, bao giờ cũng tấp nập, huyên náo. Ngày thì nhộn nhịp, ồn ào, đêm về lại là một cảnh sinh hoạt mang tính sông nước thơ mộng. Ánh trăng bàng bạc, mặt nước sông Cửu Long bao phủ bởi một lớp khói sương mông lung, hòa quyện vói từng đợt khói tàu huyền hoặc, những bóng đèn xanh đỏ trên các con thuyền lui tới, tạo nên một cảnh sinh họat về đêm mờ ảo.

Mặt nưóc sông nhấp nhô gợn sóng, từng đoàn ghe thuyền thương hồ [6] chở hàng hóa gạo lúa, chuối dừa, khoai đậu… chen chúc, chiếc vào kinh, chiếc ra vàm, chiếc tìm chỗ đậu. Lù lù những chiếc tàu sà lúp [7] đang cặp bến hoặc đang kéo còi inh ỏi để tìm đường ra sông. Trong cảnh bon chen sông nước đó, luồng lách nhanh nhẹn những chiéc xuồng ba lá mong manh và những chiếc tam bản chèo lái dọt [8] sau nầy mới có chèo đôi [9] của những cô bán vàm [10]. Trong khung cảnh nhộn nhịp, xuôi ngược nhưng nhịp nhàng, văng vẳng, lảnh lót, bổng trầm tiếng hò [10] của những cô gái bán vàm, từ những chiếc xuồng con, những chiếc tam bản, trên đó là những nồi chè, trã bánh lọt, mâm bánh da lợn, bánh qui, bánh ít, bánh tét, nồi cháo cá, cháo gà… để bán cho khách lữ hành và kẻ thương hồ xuôi ngược, trên dòng sông huyết mạch của đất Nam kỳ Lục Tỉnh.

     Trên những con thuyền, những chiếc xuồng duyên dáng mấp mô đó, từ bếp lò than đỏ rực của nồi chè, soong cháo hắt ra những tia sáng đủ để nhận ra những gương mặt khả ái, tròn trịa của các cô gái bán vàm, trắng màu hoa bưởi, má núng đồng tiền, vành môi đầy đặn, đôi mắt đen huyền sâu thẩm, để lộ bờ vai trần thế vì chiếc khăn rằn che không đủ kín. Đấy một vẻ đẹp, một vẻ đẹp mộc mạc, thùy mị, tinh khôi, hiền thục chỉ có được nơi những cô gái bán vàm ỏ vùng sông nước Củu Long, ở vàm sông Bảo Định, ở vàm Kỳ Hôn [12], ở Bến Tàu Lục Tỉnh Mỹ Tho ngày xưa.

     Thầy tôi, trên đường nhậm chức từ Châu Đốc đã đến Cầu Tàu Lục Tỉnh Mỹ Tho bằng tàu sà lúp [13] của công ty Nguyễn Văn Kiệu, còn gọi là Tàu Ông Kiệu, đúng 10 giờ đêm. Tay ôm cặp da, tay cầm nón nỉ. Thầy lần mò bước từng bước một xuống tàu, để đặt bước chân đầu tiên lên đầu đường mé sông Galliéni [14] tức là đường Trưng Trắc bây giờ. Bỗng có tiếng:

         - Thầy Hai [15] ơi! Ăn giùm em một chén chè bột bán-đậu xanh-nước dừa-đường cát nóng hổi đi Thầy Hai.

     Thầy tôi nhìn quanh để tìm kiếm, vì tiếng mời gọi thanh thao giữa đêm khuya. Thì lại được nghe thêm ba tiếng sao mà mát lòng mát dạ, từ dưới chiếc xuồng đang cặp bên bờ bực thạch [16] ven sông:

         - Em đây nè!

     Thầy tôi không cưỡng được bụng đang đói, càng không cưỡng được khi nhìn thấy cô gái bán vàm, ngước đôi mắt long lanh nhìn mình và nở nụ cười, như một đóa hồng đang độ mãn khai, nửa như van lơn, nửa như kích động. Ôi! cái duyên dáng của cô gái bán vàm Cầu Tàu Lục Tỉnh Mỹ Tho đã cướp mất hồn vía của Thầy tôi, ngay khi Thầy vừa đặt bước chân lên mảnh đất gạo trắng nước trong, trai lành gái thảo nầy. Thầy được cô gái bán vàm nắm tay dìu xuống chiếc xuồng định mệnh. Thầy tôi gọi một chén chè thưng-đậu xanh-bột bán-nước dừa- đường cát. Chưa chi Thầy tôi đã đánh mất tư cách nhà mô phạm rồi, hay vì vẻ đẹp của cô bán chè thưng, mà khi đưa tay nhận chén chè, Thầy đã cố ý nắm tay cô thay vì đón chén chè, mà sao cô cũng không nỡ giựt tay lại. Rồi chén thứ hai, chén thứ ba… chè ngọt lịm như lời nói của cô bán chè. Chiếc xuồng không ai giữ lái nên tự nó tách bến ra xa, ra xa, xa lắm… trên trời có trăng thanh, dưới nước khói sông mờ aỏ… Cầu Tàu Lục Tỉnh cũng xóa mờ trong tầm mắt của hai người. Nhưng nếu có ai đó trên bờ sông Bảo Định, cố lắng tai, sẽ nghe giọng nữ cất tiếng hò:

         -Hò ơ….Đèn Mỹ Tho ngọn xanh ngọn đỏ. Đèn Châu Đốc ngọn tỏ ngọn lu. Anh về học lấy chữ nhu. Chín năm em cũng đợi, hò ơ… chín năm em cũng đợi…. mười thu em cũng chờ.

     Và có giọng nam, có lẽ là của Thầy tôi, hò đáp lại:

         -Hò ơ… Đèn Châu Đốc không khơi mà tỏ, Đèn Mỹ Tho gió thổi không mờ. Anh về trải chiếu bàn thờ. Rước em về lạy… hò ơ… rước em về lạy… Ông Bà để anh cưới em.

     Từ cái buổi ban đầu gặp gỡ đó, sau nầy, cô bán vàm có cho tôi xem trong một bức thư Thầy tôi gởi cho cô, có một vế thơ: Một phút giao duyên tình đã bén, để xin cô viết tiếp vế sau. Thế là cô viết trả lời cho Thầy tôi: Trăm năm duyên nợ có thành chăng? Một mối tình thơ, đẹp biết bao nhiêu!

     Ngày tháng qua, những cuộc gặp gỡ của Thầy tôi và cô bán vàm thường là có mặt tôi. Thầy tôi cầm giầm [17] bơi xuồng để cô rảnh tay bán chè từ thuyền nầy qua thuyền khác, hoặc cặp vào hông tàu để bán cho khách đi tàu. Thỉnh thoảng cô hò đối đáp với khách lữ hành trên thủy lộ, cũng như với các bạn bán vàm với nhau. Vàm sông Bảo Định, nơi Cầu Tàu Lục Tỉnh về đêm, nhấp nhánh ánh đèn trên sông nước, chao qua lượn lạ,i như một họat cảnh vũ khúc thủy dạ, lồng trong những câu hò tình tứ trữ tình, đối đáp giữa trai gái, quả là một quang cảnh đầy thơ mộng, xứng danh là mảnh đất

phồn hoa đệ nhất của Nam Kỳ Lục Tỉnh [18].

     Nhờ có Thầy tôi bơi xuồng, nhờ có tôi bón than, rửa chén, cô bán vàm rảnh rang ứng khẩu hò đối đáp một cách tài tình, ý nhị làm vừa lòng mọi người, nên chè của cô bán chạy nhứt trong đám bán vàm. Tuy nhiên, số bạn bán vàm nam cũng như nữ, không một ai ganh tị về việc cạnh tranh buôn bán, lại còn tán thưởng mối lương duyên của Thầy tôi và cô bán vàm.

     Nhìn chúng tôi, ba người chen chúc nhau trên một chiếc xuồng con mong manh, một thầy giáo vụng về bơi xuồng, một cậu học trò loay hoay rửa chén, một cô gái xinh đẹp vui tươi múc chè không ngớt tay, những người bạn trong nghề, cũng như khách thương hồ, mọi người đều vui lây cái vui của thầy trò tôi.

     Có một lần, giữa cảnh trời trăng mây nước về khuya vắng khách, một giọng nam, áng chừng của một bạn bán vàm, đã cất tiếng hò chọc ghẹo Thầy tôi cùng cô bán vàm:

           -Hò ơ…! Gió đưa trăng rồi trăng đưa gió. Trăng lặn rồi gió biết đưa ai. Em ơi… chớ lấy thầy

Hai. Hò ơ!... Ví như con ong hút nhụy…. hò ơ… hút nhụy rồi nó bay xa.

     Thường là sau khi có câu hò đối ám chỉ đến ai, thì đối tượng có bổn phận phải hò đáp, dầu là câu ra đối có khó bao nhiêu, có hàm chứa một ẩn ý đùa nghịch, chọc ghẹo nặng đến đâu và càng gay cấn chừng nào, thì cuộc chơi càng sôi động chừng nấy. Luật hò trên sông nước khắp miền Nam Kỳ Lục Tỉnh là như vậy. Nơi nào có bến ghe bến tàu, như Cầu Tàu Lục Tỉnh ở Mỹ Tho, nơi nào có giáp nước [19] ghe thuyền đậu chờ con nước, như Ba Cụm [20] thuộc sông Bình Điền, nơi nào có giao lộ thủy trình sầm uất, như Ô Môn Bình Thủy, ở Cần Thơ… đều có cảnh hò đối đáp như vậy.

     Cô bán vàm, người yêu của Thầy tôi, vốn là một tay hò cự phách, có tài ứng khẩu đối đáp trong bất cứ cuộc đọ sức nào, trong giới thương hồ, có dịp trẩy thuyền ngang đây. Thế mà, sau câu hò ra đề không có gì khúc mắc, chúng tôi, Thầy tôi và tôi, trông chờ cô hò đáp nhưng không thấy. Trái lại, cô buồn buồn nhìn Thầy tôi, im lặng rồi đưa tay xuống xuồng khẽ khuấy nước vu vơ. Một tiếng thở dài đủ cho Thầy tôi nghe, và cũng đủ cho Thầy tôi, cảm nhận lý do sự câm lặng của cô bán vàm. Kịp nhìn hai dòng nước mắt lăn dài trên má cô, Thầy tôi đến bên cô lấy khăn lau hai ngấn lệ, dấu hiệu đau khổ đầu đời, của bất cứ một chuyện tình nào trên cõi đời nầy, mà tiêu biểu hơn hết là nơi đây, tại Cầu Tàu Lục Tỉnh nầy. Nơi có những cô bán vàm mộc mạc, đẹp cái đẹp của hoa bông bụp, hoa vành vành, cùng các trai tráng thương hồ gạo chợ nước sông, trôi nổi qua những câu hò trữ tình để có những mối tình sông nước, đẹp thì quả là đẹp lắm rồi, mà cũng dễ trôi và tan theo sóng nước trường giang. Để an ủi cô, Thầy tôi cất tiếng hò đáp thế cô:

         -Hò ơ… Nước trong con cá lội. Mây cao con nhạn bay. Thương nhau rồi như trời cao biển rộng. Hò ơ…Thương nhau rồi…Chớ nào phải như con ong kia, con bướm nọ… mà nói rằng xa nhau.

     Sau khi nghe thầy tôi hò đáp, cô nhìn Thầy tôi, mắt còn ướt lệ, nhoẻn miệng cười, hỏi gạn lại Thầy tôi: Thiệt vậy nghen Thầy. Chỉ thế thôi, đã đủ cho người con gái bán vàm ở Cầu Tàu Lục Tỉnh Mỹ

Tho ấm lại con tim, với một tình yêu chất phác, một lòng đôn hậu, chỉ biết ban phát cho

đời, như chất đất phù sa âm thầm bồi đấp nơi chín cửa Cửu Long.

     Đó là Thầy tôi, Thầy Lê Văn Quá đã dạy tôi lớp D1 tức là lớp Nhì năm thứ nhứt D, vào năm học 1939-1940. Tình yêu của Thầy tôi và cô gái bán vàm thật vô cùng khắng khít, mặn nồng. Cứ vài hôm, là tôi được theo Thầy đii thăm người yêu. Trên xuồng con, sau khi được ăn chè no nê, tôi nằm lăn ra ngủ, để Thầy tôi cùng cô bán vàm tâm sự. Có những lúc, Thầy không đến gặp cô được, tôi có phận sự cầm những bức thơ tình màu hồng có tẩm dầu thơm, chuyển đến người yêu. Mỗi lần như vậy, tôi được trả công bằng một chén chè nóng hổi và nhét vào túi một đồng xu. Sáng lại vào lớp, được Thầy gọi trả bài, bài không thuộc lắm, nhưng hơn ai hết, Thầy là người biết rõ lý do mà tôi không học

bài, nên tôi vẫn được điểm tối ưu. Đấy! Ai bảo đi học là khổ. Riêng tôi, đi học sướng lắm chớ! Hạnh phúc đã đến với Thầy tôi và Cô tôi. Tôi đã bắt đầu gọi cô bán vàm bằng Cô rồi. Thú thật tôi cũng mong ước cho tình yêu hai người sớm thành sự thật, vì tôi nghĩ, trong hạnh phúc nầy cũng có hạnh phúc của tôi.

     Ngày 15 tháng 7 năm 1940, ngày nghỉ hè của năm học. Thầy tôi lại phải về Châu Đốc với gia đình. Vẫn là tôi đưa Thầy ra bến Tàu Lục Tỉnh. Tàu từ Sài Gòn vào kinh Chợ Gạo, ra vàm Kỳ Hôn ghé Cầu Củi [21] - cảng cá bây giờ - lấy củi để đốt lò, vì tàu vận hành bằng hơi nước, rồi cặp bến đúng 8 giờ tối. Chuyển hàng hoá, lấy hành khách xong, tàu sẽ tách bến đúng 10 giờ đêm. Thầy tôi và tôi tay xách, nách mang dùng xe kéo đến bến đúng 8 giờ, có nghĩa là chúng tôi đến nơi thì tàu đã cặp cầu. Chúng tôi đưa mắt để tìm, không phải chiếc tàu mà là chiếc xuồng, chiếc xuồng mà trên đó có một cô gái bán chè thưng-bột bán-đậu xanhnước dừa- đường cát, một người con gái của đất Kỳ Hôn. Chiếc xuồng mong đợi đã cấm sào đợi khách tự bao giờ. Chúng tôi dìu nhau bước xuống xuồng.

Trời ơi! Lần gặp gỡ nầy sao mà buồn vậy. Hai người không nói gì với nhau. Tôi cũng buồn lây, nhìn vơ vẩn lên ống khói tàu từng hồi, phun ra những đợt khói đen vần vũ, rồi lại nghe từng hồi còi tàu giục giã phút chia ly. Chiếc xuồng bỏ bến ra xa, muốn tách ra khỏi đám đông để được một mình một cảnh của riêng nhau. Bỗng đâu đây, một giọng hò của ai đó lúc bổng lúc trầm, sâu lắng, quyến luyến, tiếc

thương:

         -Hò ơ… Tàu súp lê một còn thương còn nhớ, Tàu súp lê hai còn đợi còn chờ, Tàu súp lê ba tàu ra khỏi bến. Anh ơi! Xa nhau lần nầy… biết đến bao giờ…. Hò ơ!... Biết đến bao giờ… hai đứa mình mới được gần nhau.

     Câu hò nầy của ai, vô tình hay cố ý, mà sao cứ lặp đi lặp lại mãi. Nồi chè còn nguyên, không bán cho ai, củi lửa lạnh tanh. Cô tôi ngồi nhìn về chiếc tàu đang đợi khách, không nói gì, sụt sùi khóc. Chợt nhìn thấy tôi ngồi ủ rũ, cô múc một chén chè trao cho tôi, tôi lắc đầu, cô thở ra, đổ chén chè trở vào nồi… rồi khóc.

     Tiếng còi tàu lại vang lên như hối thúc kẻ ra đi, khiến cho tôi, một người vô can, giờ đây nhớ lại cũng chạnh lòng. Giá mà thời bấy giờ đã có được bản nhạc Biệt ly của Dzoãn Mẫn, thì tôi cũng đã tức cảnh sanh tình mà cất tiếng ca:

         -Biệt ly, sống trên giòng sông. Ôi còi tàu như xé đôi lòng. Người ra đi với ngàn nhớ thương…

     Tàu súp lê hai… có nghĩa là Thầy tôi phải lên tàu. Chiếc xuồng giờ đây do tôi điều khiển, cặp vào hông tàu. Thầy tôi nắm lấy tay cô tôi từ giã, dùng dằng không nỡ buông ra. Tiếng còi tàu lại thúc giục. Thầy đành phải bỏ tay, níu lấy thành tàu để chuyền lên. Xuồng lắc lư, Thầy cố mấy lần mà không lên được tàu. Cô tôi vẫn úp mặt vào lòng bàn tay, không nhìn đến Thầy tôi, mà cũng không nghĩ đến việc giúp cho Thầy tôi lên tàu. Thầy tôi lên được boong tàu không dễ dàng, nhìn xuống cô tôi, trông cô tôi nhìn lên để nói lời tạm biệt, mà cô vẫn úp mặt vào tay. Tôi phải nhắc cô:

         - Cô ơi, Thầy chờ cô để chào cô kìa.

     Thay vì cô nhìn lên Thầy, cô vẫn ôm mặt, lắc đầu và tôi chỉ nghe tiếng khóc thổn thức của cô, lớn đến nỗi làm án mất tiếng sóng vỗ mạn xuồng. Lại đâu đó có tiếng hò:

         -Tàu súp lê ba, tàu ra biển Bắc. Xa nhau rồi nước mắt như mưa….

     Mười giờ, tàu súp lê ba, nghĩa là giờ chia tay đã đến. Tàu không ra biển Bắc mà ngược về miền Tây diệu vợi. Cảnh biệt ly nào cũng vậy, vẫn nước mắt như mưa. Tàu tách bến, máy nổ, chân vịt tàu quậy nước, bọt trắng xoá. Từng đụn khói đen phủ lên nền trời đêm. Trên boong tàu, vẫn còn một bóng người đứng đó.

Tàu từ từ ra khỏi vàm sông Bảo Định, hướng mũi về miền Tây Châu Đốc, bỏ lại đàng sau hàng mấy chục chiếc xuồng bán vàm… bơ vơ mất khách, đang dõi mắt trông theo, ngầm hẹn ngày tái ngộ. Trong đó có Cô tôi. Nhưng trong Cô tôi, ngày tái ngộ với con tàu Lục Tỉnh nầy, không đơn thuần là chỉ để bán chè thưng-bột bán-đậu xanh-nước dừađường cát, mà nó, chiếc tàu nầy, có mang trả về cho Cô tôi người lữ khách, mà trước đây một năm, nó đã mang đến cho Cô tôi hay không? Hai tháng bãi trường sắp qua. Một hôm tôi đang loay hoay chuẩn bị tập vỡ viết thước cho ngày tựu trường năm học mới, thì Cô tôi đến nhà tìm tôi. Tôi không ngạc nhiên về sự thăm viếng bất thường nầy và tôi cũng hiểu rõ lý do của nó, vì chính trong tôi mấy ngày nay một câu hỏi đã không ngừng ám ảnh tôi. Đó là: Năm nay Thầy có về trường mình nữa không? Cô đến bên tôi, nôn nóng hỏi:

         - Em có tin gì về Thầy không?

     Tôi không dám mở miệng mà chỉ lắc đầu. Cô tuyệt vọng nhìn ra sân, trưa nắng im ẳng, vắng không. Lâu lắm, Cô nói với tôi như một lời tâm sự:

         - Cách nay mấy ngày, ngày nào có chuyến tàu Châu Đốc về, cô đều cặp xuồng bên bến đón Thầy… mà không có!

     Cụm từ mà không có, Cô nói nhỏ lắm mà sao tôi nghe nó vang dội trong tim tôi. Như để an ủi, Cô nói với tôi mà dường nhưđể nói với chính mình:

         - Còn một chuyến tàu Châu Đốc nữa, để cô đón Thầy… thử coi!

     Trời ơi! Một cuộc hẹn trăm năm mà… cô bảo là thử coi. Sao mà đau lòng lắm vậy! Hôm nay là ngày khai giảng năm học mới. Tôi trở lại trường và được lên lớp Nhì năm thứ hai. Việc làm đầu tiên của tôi là khi vào trường, lập tức chạy xuống lớp cũ để tìm Thầy tôi. Lớp cũ đã có Thầy mới về dạy. Tôi lại chạy tìm khắp các lớp… nhưng Thầy Quá của tôi, năm học nầy không về dạy trường nầy nữa!

Mười một giờ, tan học, tôi ôm cặp ra về, mà vẫn còn miên man nhớ đến Thầy tôi. Vừa lúc ra cổng, bỗng có tiếng gọi tên tôi. Tôi nhìn lên thì ra là Cô tôi, cô gái Kỳ Hôn, cô bán vàm, cô bán chè thưng-đậu xanh-bột bán-nước dừa-đường cát, tại Bến Tàu Lục Tỉnh - Mỹ Tho.

     Nỗi nhớ Thầy còn đó, kịp nhìn vẻ mặt lo âu, thẫn thờ của Cô, con tim tôi nhói lên. Cô vội

nắm tay tôi, hỏi:

         - Thầy có về dạy trường mình không?

Tôi không dám nhìn Cô, nhìn xuống mặt đường, thưa là:

         - Em tìm Thầy… mà không thấy.

     Tay Cô lạnh ngắt, buông tôi ra, không nói một lời gì, loạng choạng bước đi trên con đường Bourdais [22] tháng chín mưa bay, lá me đổ vàng trên mặt lộ bốc khói sau cơn mưa rào. Trời sắp sang thu, cũng là thời điểm Thầy tôi gặp Cô tôi, khiến tôi bồi hồi nhớ câu hò của cô bán vàm trên sông Cửu Long nơi Cầu Tàu Lục Tỉnh, Thành phố Mỹ Tho: Anh về học lấy chữ nhu, Chín năm em cũng đợi, mười thu em cũng chờ Tôi nhìn theo bóng dáng Cô gãy gặp, nhạt nhòa trong lớp bụi mưa mờ đục và chợt thốt ra:

         -Cô ơi! Mười thu có dài lắm không?!

                                          Mỹ Tho vào hạ năm Mậu Tý 2008

                                          Viết về những ngày tháng năm cũ

                                                         Mặc Nhân Tân Văn Công

Chú thích:

[1] Tàu, xe lửa súp lê… tức là kéo còi. Cảnh sát súp lê là thổi còi… do động từ Pháp là siffler. Tàu súp lê… một là chuẩn bị, hai là thúc giục hành khách lên tàu, ba là tàu nhổ neo.

[2] Sau nầy là Trường Xuân Diệu.

[3] Cầu Tàu Lục Tỉnh ở Mỹ Tho là bến tàu trung chuyển trên thủy trình từ Sài Gòn về các tỉnh miền Tây, lúc bây giờ gọi là Lục tỉnh trong cụm từ Nam kỳ Lục tỉnh. Thủy trình nầy, người Pháp lập ra để phục vụ cho con đường xe lửa Bắc Nam, nhưng vì đến Mỹ Tho, đọan đường còn lại đến Cà Mau, là vùng sông rạch, không thể thiết lập đường hỏa xa, nên phải thay thế bằng đường thủy. Xin nói thêm là con đường thủy nầy lên đến tận Nam Vang (Phnom Penh).

[4] Ga xe lửa Mỹ Tho là ga cuối của đường hỏa xa xuyên Việt.

[5] Lục tỉnh, từ xưa chỉ chung các tỉnh miền Tây theo địa danh cũ.

[6] Tàu sà lúp do từ Pháp là chaloupe.

[7] Bán vàm gốc từ vàm sông, nơi có nhiều thuyền ghe, tàu bè đậu chờ con nước thuận lợi, hoặc đợi rước hành khách nên có nhiều người dùng xuồng, ghe bán thức ăn cho lữ khách, hoặc cho giới thương hồ tức là những người buôn bán trên sông nước.

[8] Hò, một lọai dân ca đối đáp để giải trí trong hay ngoài giờ lao động của nông dân, người làm rừng, người đii ghe… có thể lấy những câu thơ, câu lý có sẵn ứng khẩu thêm, sao cho phù hợp với nội dung đối đáp.

[9] Kỳ Hôn thuộc xã Tân Mỹ Chánh và xã Xuân Đông là vàm kinh Chợ Gạo đổ ra sông Tiền, nên gọi là Vàm Kỳ Hôn. Cửa sông quan trọng khi tàu từ Sài Gòn ra vàm nầy để đến Mỹ Tho. Nơi đây có giòng thủy lộ nguy hiểm, nên vào năm 1936 có một chiếc tàu từ Sài Gòn về Trà Vinh lâm nạn chìm tại đây. Hầu hết khách đii tàu đều chết. Chiếc tàu nầy mang tên tàu Đồng Sanh, do đó thi hài nạn nhân vô thừa nhận, được chôn tại thửa đất ở phường 6, nên được gọi là đất Đồng Sanh. Khi bến phà Rạch Miễu được thành lập, các hài cốt nầy được dời đi. Bây giờ không ai biết đất Đồng Sanh nữa.

[10] Thầy Hai, ngày xưa ra đường nếu gặp một người nào mặc âu phục thì thường gọi là thầy, và bất cứ người nào nếu chưa biết, thì được gọi là Thầy Hai.

[11] Bực thạch, dọc theo bờ sông đê tránh lở đất người ta thường cẩn đá làm thành từng bậc để có thể lên xuống.

[12] Giầm, ghe thuyền chèo bằng chèo, xuồng bơi bằng giầm.

[13] Cầu củi là nơi bán củi tiếp nhiên liệu cho tàu, vì tàu chạy bằng hơi nước.

[14] Giáp nước là nơi hai dòng nước đối lưu của một con kinh hay một con rạch gặp nhau, thường là ở các khúc quanh, mang phù sa đến càng ngày bồi cao lên, tàu ghe đến đây không thể qua được phải đợi nước lớn, thỉnh thoảng phải vét. Vì là chỗ có khúc quanh nên còn gọi là hốc đùn.

[15] Chèo lái dọt hay vọt? Tức là chèo chỉ với một cây chèo, điều khiển qua phải qua trái bằng mái chèo. Sau nầy có cách chèo đôi là người chèo dùng hai tay sử dụng hai chèo cùng một lúc, vẫn không có bánh lái. Đa số các cô gái đồng bằng sông Cửu Long, giờ đây đều chèo đôi, với một tư thế uyển chuyển, nhịp nhàng, duyên dáng đáng yêu.

[16] Đại lộ Bourdais bây giờ là Đại lộ Hùng Vương.

[17] Sông Bảo Định thực sự là Kinh Bảo Định, do Triều Nguyễn cho đào, để dùng làm thủy trình đi tứ các tỉnh miền Tây đến Sài Gòn cho thuyền nhỏ. Người Pháp gọi là Kinh Bưu Điện (Arroyo de la Poste) áng chừng để chuyển thơ từ vì đường bộ lúc bấy giờ còn phôi thai.

[18] Ba Cụm một điểm ghe thuyền đậu trên sông Bình Điền, để chờ con nước vào Sài Gòn Chợ Lớn. Nơi đây là nơi tập kết nhiều ghe thuyền, nên thường có ăn trộm, mà ăn trộm trên sông, gọi là bối mà “Bối Ba Cụm” là nổi tiếng nhất.

[19] Mỹ Tho xưa trong Nam Kỳ Lục Tỉnh, được mang danh là Đệ nhất phồn hoa đô hội. Thật vậy, về mọi mặt: văn hóa, kinh tế, thương mãi, giao thông, giáo dục, thể thao… Mỹ Tho đều trội hơn các tỉnh khác.

[20] Đường mé sông vì đường thành phố người Pháp gọi là ‘rue’, còn đường áp mé sông gọi là ‘quai’.-

[21] Cầu Tàu Lục Tỉnh ở Mỹ Tho.

[22] Vàm sông Bảo Định đổ ra Sông Tiền.

Last Updated on Tuesday, 23 July 2013 17:42
 

Xem những bài viết khác của Tác giả Hoài Văn