Skip to content

NĐCLNH Úc Châu

Increase font size Decrease font size Default font size default color light color
RẠCH MIỄU QUÊ TÔI PDF Print E-mail
Written by Hoài Văn   
Tuesday, 16 July 2013 17:29

RẠCH MIỄU QUÊ TÔI

                                                                                               Hoài Văn

       Mặc Nhân TVC, một bút danh khá quen thuộc với chúng ta, trong cái nhìn của riêng tôi là hình ảnh của một nhà văn tiêu biểu cho đồng bằng sông Cửu Long đặc biệt là vùng sông nước Bến Tre, vùng vườn dừa bạt ngàn của cù lao An Hoá, nơi có trai lành gái đẹp của vùng Rạch Miễu linh thiêng. Hầu hết tác phẩm ông đều viết về miền đất hứa của ông và đều do nguồn cảm xúc ray rứt từ con người chất phác, đến cây cầu dừa trơn trợt, cả hình dáng cổ kính của ngôi chùa, mái đình, nóc miễu ...đều được ông vận dụng một lối văn dung dị mà thâm trầm, mộc mạc mà thấm đậm, quê mùa nên gần gũi, dí dỏm nên dễ thương nhưng vẫn không thiều phần “văn vẻ ước lệ”.

       Xin hãy đọc một số bài của Mặc Nhân TVC về vùng đất Rạch Miễu trong Tập san nầy.

                                                                                                                        Dã Hạc.

                          alt

 

Một ngôi nhà ngói cổ của Rạch Miễu hiện đang còn trong tình trạng tốt

 

MỘT THOÁNG NHÌN

       Vùng Rạch Miễu từ thuở khai hoang lập ấp Miền Nam của ông cha ta cho đến thời Nam Kỳ Lục Tỉnh thuộc về huyện Kiến Hoà, trấn Định Tường mà lỵ sở là Mỹ Tho về sau trong thời thuộc địa của Pháp vùng Rạch Miễu nầy vẫn thuộc về tỉnh Mỹ Tho. Mãi đến năm 1956, vùng Rach Miễu mới thuộc về tỉnh Bến Tre.

       Rạch Miễu một vùng đất nằm giữa cù lao An Hoá, hướng Nam giáp với sông Ba Lai một nhánh sông Cữu Long. Hướng Bắc nhìn ra sông Cửa Đại bên kia là Cửa Tiểu tức là Mỹ Tho, gồm một số xã Tân Thạch, Quới Sơn, Giao Long, Giao Hoà, Song Phước, Phú An Hoà, An Khánh, Phú Túc, Phú Đức. Rạch Miễu có một vị trí địa lý giao thông về đường thuỷ cũng như đường bộ chính yếu và quan trọng từ các tỉnh Miền Tây lên Sài Gòn, Miền Đông tất nhiên là ra cả Trung và Bắc.

       Truy căn nguyên, Rạch Miễu với một vùng đất nổi tiếng như vậy mà địa danh Rạch Miễu chỉ xuất xứ từ một con rạch nhỏ đổ ra sông Cửa Đại, trên bờ của vàm con rạch nầy về hữu ngạn có một ngôi miễu tuy nhỏ nhưng lâu đời.

Nhưng địa danh Rạch Miễu được lan rộng vì Rạch Miễu là điểm trung chuyển giao thông đường bộ vô cùng quan trọng. Nơi nầy là đầu mối tiếp chuyển đến con đường Cái Quan thời xưa, con đường Thuộc địa số 1 thời Pháp, Quốc lộ 4 trước đây và bây giờ là con Đường Quốc lộ 1 A để đi từ Nam ra Bắc. Điển hình là từ ngày có cầu Rạch Miễu lượng xe cộ giao thông qua đây tăng lên gấp bội. Rồi vứa đây cây cầu qua sông Hàm Luông đã xong và cây cầu qua sông Cô Chiên đi Trà Vinh cũng trong dự án xây cất...chừng đó chắc chắn là hơn phân nửa lượng xe cộ giao thông từ Miền Tây lên Sài Gon sẽ qua vùng Rạch Miễu.Về đường thuỷ cũng vậy tất cả phương tiện giao thông đường thuỷ từ các tỉnh Miền Tây muốn lên Sài Gòn, hay ra biển đều phải đi ngang vùng Rạch Miễu và Mỹ Tho.

       Vùng Rạch Miễu cũng như vùng Bảy Núi, vùng Ba Giồng, vùng Củ Chi, vùng Năm Căn, vùng Tháp Mười, vùng Kỳ Hoà ... từ xa xưa đã là những vùng đất thiêng của Miền Nam Tổ quốc mãi đến bây giờ vẫn là những địa danh viết nên những trang sử dịa lý, hành chính, chính trị, kinh tế, xã hội, nhân văn...của Đất Nước. Sau đây chúng ta để một ít thời gian trở về vùng Rạch Miễu xa xưa đẩy kỷ niệm.

                1.BẮC RẠNH MIỄU...BUỒN ƠI CHÀO MI!

         alt     alt

 

Cây cầu Rạch Miễu, cây cầu lịch sử, cây cầu dài nhất Việt Nam tính đến nay (2009), cây cầu thứ hai nối liền hữu và tả ngạn sông Tiền, thuộc một trong hai nhánh của sông Mékong, sông Cửu Long. Con sông tầm cở trên thế giới, vượt qua 4.180 km mang phù sa từ thượng nguồn xuyên qua sáu quốc gia, bồi đắp miền Nam Việt Nam thành một đồng bằng phì nhiêu nhất, để nơi đây trở nên vựa lúa lớn nhất nhì trong các châu lục…Cây cầu mang tên cầu Rạch Miễu nầy đã được khánh thành vào 09 giờ sáng ngày 19 tháng giêng năm 2009 trên quốc lộ 60, về địa phận tỉnh Bến Tre, bên kia là thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Trong nỗi hân hoan chào đón đoàn xe đầu tiên vượt cầu, trong một thoáng tôi nhìn về hướng hạ nguồn sông Tiền. Ánh mắt tôi chợt nhận ra, lặng lẽ mấy chiếc bắc, mà gần đây có người gọi là phà, mới ngày hôm qua còn chịu thương chịu khó nắng mưa dãi dầu đưa khách sang sông. Vậy mà, hôm nay chúng nó, những chiếc chiếc bắc nầy còn mang màu sơn trắng bạc, loang loáng dưới ánh nắng ban trưa, im ắng, bất động, chụm mũi vào như muốn ôm chầm nhau để cùng chia sẻ một nỗi buồn chung, nỗi buồn chia tay với hằng triệu khách sang sông, với hai bến nước trường giang mà chúng hằng gắn bó qua một thế kỷ.

Không buồn sao được, những chiếc bắc của tôi, ngày nào còn mong manh lắm, cả chục năm liền, đã mỗi ngày đều đặn sáng đưa tôi từ Rạch Miễu sang Mỹ Tho học, chiều rước tôi từ Mỹ Tho về nhà bên vàm Rạch Miễu. Không buồn sao được, khi tôi lớn lên, những chiếc bắc nầy cũng đã “trưởng thành” như tôi, to lớn hơn, mạnh mẽ hơn, nhanh nhẹn hơn, đảm đang hơn vẫn chung thủy đưa tôi vì kế mưu sinh, hai buổi sáng đi chiều về với hai bờ sông nước. Những chiếc bắc già nua nầy vẫn nhẫn nại tháng năm ròng rã, đêm mưa ngày nắng không mệt mỏi đưa khách sang sông. Còn tôi tuổi đã già, không còn đủ sức để sang sông, nhưng đàn con, cháu tôi lại thay tôi chịu ơn những chiếc bắc nầy.

Trước ngày khánh thành cây cầu Rạch Miễu, một ý nghĩ nung nấu tôi. Tôi lên bến Bắc sớm, chen vào quày bán vé mua một vé sang sông dù tôi không có nhu cầu đó hay ít ra là tôi muốn được qua Bắc lần cuối cùng. Thường là tôi nóng lòng muốn mua vé nhanh, nhưng lần nầy tôi cố tình trì hoản, chen lấn với những hành khách khác, cà kê với cô bán vé, nhìn xem cô mặc áo màu gì vì tôi biết rằng rồi đây tôi không còn cơ hội nào để gặp cô, tôi nhìn tấm vé trong tay sao mà những dòng chữ, những con số ngày xưa đối với tôi vô nghĩa mà bây giờ dường như nó muốn nói với tôi điều gì.

Xuống Bắc, lên boong tôi nhìn những người hành khách xa lạ mà dường như trong chuyến đò cuối cùng nầy tôi có cảm tình với họ đến thế. Bắc tách bến, tiếng máy rì rầm, tiếng hành khách trò chuyện, tiếng sóng vỗ vào mạn cái gì cũng gợi trong tôi một cảm giác chia tay. Nhìn ngược về thượng nguồn tôi thấy cây cầu mới đã xong sẵn sàng thay thế cho chiếc Bắc mà từ nay tôi sẽ qua sông bằng cây cầu nầy. Tôi tự nhũ lòng mình: Không phải tao phụ mầy đâu Bắc ơi! Chuyện đời là dâu bể mà....

Từ trên cầu Rạch Miễu vừa được khánh thành, cây cầu mang tên Rạch Miễu, tên “mượn” từ bến đò Rạch Miễu xa xưa, từ bến bắc Rạch Miễu ngày nào, từ bến phà Rạch Miễu gần đây, tôi nhìn những chiếc bắc, bị bỏ rơi từ nay không còn mang tên bắc Rạch Miễu. Chúng đang âm thầm chịu đựng số phận của luật đào thải, lòng thấy ngậm ngùi.

Nhớ lại tôi đã nôn nao chờ đợi đến sáu năm, để được với đôi chân minh qua sông Tiền bằng cây cầu mong ước, thế nhưng, nỗi vui chưa trọn vẹn với cây cầu mới, thì lòng tôi đả bồi hồi thương nhớ con đò xưa. Cũng như hai bờ bến cũ rồi cũng sẽ theo qui luật bể dâu, không còn nữa. Đành vậy, nhưng có lẽ hình ảnh đò xưa bến cũ sẽ không bao giờ tàn phai trong kí ức tôi./- 

                             2. CÂY DỪA VÙNG RẠCH MIỄU

                     alt

Vườn dừa Bến Tre

 

Nói đến lịch sử kinh tế vùng Rạch Miễu mà không nói đến cây dừa là một thiếu sót lớn. Vườn dừa gần như đồng nghĩa với Bến Tre nói chung, vùng Rạch Miễu nói riêng. Thật vậy, một người khách từ bất cứ nơi nào đến, đi qua bắc, đặt bước chân đầu tiên lên vùng Rạch Miễu đều ngỡ ngàng trước những vườn dừa bát ngát, vô tận trải rộng tàn lá xanh tươi che kín gần như toàn thể diện tích của mảnh đất tam đảo nầy. (Tinh Bến Tre gồm có ba cù lao: An Hóa, Minh và Bảo), đặt biệt là vùng Rạch Miễu.

Nói đến lợi nhuận kinh tế do cây dừa mang đến cho người dân hãy trở về trước đây bốn mươi năm. Một gia đình trung bình có 4 con và một mảnh vườn dừa một mẫu, có thể suốt cuộc đời, gia chủ nầy không phải làm việc gì khác ngoài việc chăm sóc khu vườn và thu huê lợi, có thể nuôi sống gia đình đầy đủ cơm ăn áo mặc, con cái đi học đến nơi đến chốn.

Trong phạm vi bài nầy, chỉ xin nêu ra những từ ngữ, từ vựng vô cùng phong phú về cây dừa và trái dừa đễ những người không phải là dân xứ dừa, mà có là dân xứ dừa đi nữa mà phải vì hoàn cảnh xa xứ, sẽ thấy nó đáng yêu biết bao nhiêu mỗi khi ta nghe một cô gái xứ dừa nói với bạn một câu chẳng hạn như thế nầy: “Anh ở lại với em một chút đi, cây dừa éo vàng Ba em trồng đó, mới có trái chiến, ngọt lắm, em giựt xuống mấy hôm rày, trông anh về chặt cho anh uống nước ...” Nếu là bạn về thăm xứ dừa mà nghe thỏ thẻ một câu ân tình của một gái xứ dừa có nước da trắng mịn như miếng dừa nạo, ân cần với bạn như vậy thì liệu bạn có bỏ về được không? Mà nếu bạn ở lại cái xứ dừa nầy, uống nước trái dừa éo vàng của Ba em trồng, rồi em giựt xuống để dành chặt cho bạn uống.... e rằng quyển sổ nhật ký của bạn rồi sẽ...sang trang.

Thôi trở lại chuyện cây dừa của chúng ta. Các loại dừa công nghiệp và thực phẩm gốm có: dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa ba khía, dừa ba cạnh, dừa bung.

Dừa giải khát: dừa xiêm, dừa tam quan, dừa éo, dừa éo vàng, dừa éo xanh, dừa lá dứa, dừa sáp.

Dừa bỏ đi: dừa điếc, dừa trăng ăn, dừa chuột khoét.

Quá trình trái dừa tăng trưởng: bông dừa, dừa non, dừa ráng cháo hay váng cháo, dừa nạo, dừa cứng cạy, dừa rám, dừa khô, dừa mộng.

Các bộ phận của cây dừa: rể dừa, gốc dừa, thân dừa, bẹ dừa, tàu dừa, lá dừa, cọng dừa, bông dừa, trái dừa, vỏ dừa, sơ dừa, bụi dừa, gáo dừa, mắt dừa, mầu dừa, sọ dừa, miểng gáo, nước dừa, cơm dừa, mộng dừa, mo nang, củ hũ.

Những thao tác xử lý: Leo dừa, bẻ dừa, giựt dừa, hái dừa, thẹo dừa, chặt dừa, lột dừa, đập dừa, nạo dừa, cạy dừa, phơi dừa, sấy dừa, thắng dầu, thắng nước màu, ép dầu, thẹo dừa, bè dừa, đốn dừa, đánh bả (sơ dừa) kéo dây luộc (sơ dừa)…

Công dụng của cây dừa, trái dừa và dầu dừa: dầu ăn, xào dừa, um dừa, mứt dừa, kẹo dừa, thạch dừa, cứt dừa (do thắng dầu dừa mà có), đuông dừa (một loại nhộng của cây dừa), nước màu dừa (thực phẩm), cột nhà, xiên nhà, kèo nhà, vách nhà, đòn tay nhà (xây dựng), cây cầu dừa (đi vào dân ca) xà bong, dầu dừa, dây luộc, (công nghiệp) xức tóc, đốt đèn, chùi bóng, chổi dừa, đũa ăn, đũa bếp, vật lưu niệm (gia dụng).

Dụng cụ liên quan: dao phay, mác, chét, chĩa, chĩa ba, lưỡi liềm, sào giựt (dừa) nài leo (dừa), nầm lột (dừa), mác cạy (dừa), giàn sấy( dừa cho khô).

Một ngôi nhà trung lưu ở Rạch Miễu thường là xây cất hoàn toàn bằng cây dừa. Từ cột kèo, xiên, trính, đòn tay, vách, khung cửa, cửa đều do cây dừa. Người ta chọn những cây dừa lão trăm năm, đốn về dùng rìu tách vỏ ra cắt đoạn làm cột, rồi cũng dùng rìu chành ra thành xiên, trính, đòn tay. Vách bổ kho dừa phải dùng cưa tay, có thể mỗi tấm ván dừa như vậy do bàn tay khéo léo của thợ cưa, bề dài có thể đến 5, 6 mét và nhất bề dày không quá 1 cm 20. Dừa lão độ bền của nó không thua gì dán dầu có thể dùng đến vài ba chục năm. Ngày nay ở Bến Tre cây dừa vẫn còn công dụng nhưng ít hơn rất nhiều do nhà cửa giờ được xây cất phần nhiều bằng gạch ngói, bê-tông...Tuy nhiên một ngôi nhà cất bằng cây dừa lợp bằng là dừa nước nơi thôn quê, vẫn thấy nó xinh xinh dễ thương hơn.

Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là vùng Rạch Miễu và phụ cận được thiên nhiên ưu đãi. Dừa là một loại cây dễ trồng, thích ứng với vùng nước ngọt kể cả nước lợ. Dừa trồng trong 4 đến 5 năm là cho trái có giá trị kinh tế cao, có thể cho thu hoạch đến năm bảy chục năm. Ngoài trái là nguồn lợi chính, cây dừa từ cội rễ, thân lá…không có phần nào là không có công dụng cần thiết cho cuộc sống người dân …xứ dừa.

                                   3 .CÂY CẦU DỪA

                  alt

 

Nói cây dừa ở Rạch Miễu mà không nói cây cầu dừa là vô tình với xứ dừa. Vườn dừa được xẻ mương lấy nước đồng thời lấy phù sa để bồi gốc, do đó trong vườn dừa xen kẻ một bờ đất là một mương rộng nên việc đi lại phải có rất nhiều cầu bắc qua mương. Lẽ đương nhiên là cầu nầy làm bằng những thân dừa bỏ ngang qua mương. Đi cầu dừa phải quen để không nói là nghệ thuật vì mương rộng 2. 3 m mà chỉ có 1 thân dừa tròn lại vào mùa mưa rất trơn trợt. Vì vậy các cây cầu dừa thường có những cây gượng hay cây chống để người qua cầu được an toàn.

Những ngưỡi dân xứ dừa quá quen thuộc với nhưng cây cầu nầy rồi nhưng còn những người thành thị, những cô cậu học trò những cô gái tiểu thơ về thăm vườn dừa đành chịu đưa bàn tay trinh nguyên của mình cho một cậu trai lạ hoắc dẫn qua nếu không muốn té mương. Và những “nắm tay qua cầu” nầy thường đưa đến những chuyện tình đầy ấp tính lãng mạn của tuổi thơ.

Cho nên tôi viết về cây cầu dừa không thể nào lột hết cái nên thơ, cái trữ tình của những mối “tình cầu dừa” bằng bản nhạc “Cây Cầu Dừa” của nhạc sĩ Ngọc Sơn, nên tôi xin phép tác giả Ngọc Sơn cho tôi chép lại nơi đây để giới thiệu với độc giả của tập san nầy.

Nhạc phẩm: Cây Cầu Dừa. Lời và nhạc: Ngọc Sơn.

Đã lâu lắm rồi em về thăm lại chốn xưa
Đã lâu lắm rồi em về đi qua cầu dừa.
Cầu dừa trơn trợt lắm em ơi
ai mà không khéo té như chơi
môi son má hồng chân guốc cao gót
làm sao qua cầu dừa......
em ở phố thị quen rồi xe cộ đón đưa
em đã quên rồi quê mình có cây cầu dừa
cầu dừa anh chạy trước em sau
em cùng anh quấn quýt bên nhau
cây me trước nhà cây khế sau ngỏ
trèo leo cùng cười!!
thuở thiếu thời vui lắm ai ơi
em lâu rồi đã bỏ cuộc chơi
bỏ anh bơ vơ với cây cầu dừa
cây cầu dừa sớm nắng chiều mưa....
em bước theo chồng khoe áo hồng bao kẻ đón đưa
làm sao em nhớ đến cây cầu dừa
nhớ giàn bông bí con ong bầu sớm trưa!!!
bây giờ em về xa lạ cả người lẫn quê
bây giờ em về anh buồn với bao kỷ niệm
cầu dừa vẫn là lối đi chung
em giờ chân bước thấy mông lung
cây me trước nhà cây khế sau ngỏ

Nhìn em sao lạ lùng.....

       Đấy kỷ niệm xưa thuở thiếu thời vui lắm ai ơi, em lâu rồi đã bỏ cuộc chơi, bỏ anh bơ vơ với cây cầu dừa.... thì tội nghiệp cho anh biết bao nhiêu.

       Nếu bạn không dám đi cầu dưa mà bạn muốn qua mương chỉ còn một cách: nhảy mương. Nhảy mương âu cũng một nếp văn hoá. “Văn hoá nhảy mương” mà!!!.

                                  4 .NHẢY MƯƠNG

                    alt

 

       Qua mương trong vườn dừa là một chuyện thường vì dân xứ dừa ngoài việc đi cầu dừa còn qua mương bằng một cách dễ dàng hơn, gọn gàng hơn, nhanh chóng hơn, thực tiễn hơn và cũng nghệ thuật hơn...đó là nhảy mương. Nhảy mương, các bạn có nhảy mương chưa, rất thú vị.Tôi xin kể một chuyện nhảy mương khi tôi còn nhỏ lối 12 tuổi.

       Một ngày nghỉ học, như mọi khi tôi đi săn bắn, giàn thun trong tay, con Mực lon ton chạy theo tôi hộ tống. Sau một buổi đi lòng vòng trong khu vườn dừa tìm chim để bắn, trời đã trưa, người đã mệt, bụng đã đói mà chưa có một chú chim nào chịu đậu yên một chỗ cho mình bắn trúng. Con Mực cũng chán ngấy, lưỡi le dài, đuôi xụi lơ, trông mất cả nhuệ khí. Có lẽ vì nó không có cơ hội nào chạy đi ngoạm một con mồi về cho chủ nên xem chừng nó cũng không còn hào hứng với cuộc đi săn bắn nầy.

       Chỉ còn nhảy một cái mương nữa là tôi về đến nhà. Tôi đeo giàn thun vào cổ lùi lại mấy bước lấy trớn sẵn sàng nhảy qua mương. A lê hấp! Nhảy. Tôi chọn một chỗ nhảy qua gần một thân cây dừa ngả ra mương để khi nhảy qua tôi có thể ôm vào cây dừa để có diểm tựa leo vào bờ.. Ý đố là như vậy, chiến thuật là như vậy nhưng trời không nương, mưu sự tại nhơn thành sự tại thiên mà, nên khi tôi nhảy qua mương đưa hai tay ôm thân cây dừa thì đúng vào chỗ đó có một ổ ong bần. Bầy ong bần đang êm ấm với gia đình bỗng nhiên bị bàn tay kẻ xấu phá đám nên lập tức chúng túa ra bu vào đầu trọc vào cổ vào mặt của tôi mà chích.

       Tôi cắn răng chịu đựng nếu không sẽ rơi xuống mương. Hai tay tôi phải khó khăn lắm mới buông được cây dừa leo vào bờ, vừa chạy ra xa vừa ôm đầu ôm cổ mà bầy ong vẫn không tha. Chúng bay đuổi theo tôi và ban cho tôi những mũi chich đau nhức buốt xương. Lâu lắm chúng mới đã giận bỏ tôi về ổ. Mặt mũi tôi sưng vù, đấu cổ tôi ê ẩm. Tôi nhìn quanh tìm con Mực để hỏi tại sao nó không “liều mình cứu chúa”, tôi lại thấy nó ngồi xổm nhìn tôi xem bộ vui vẻ hả hê lắm.

       Tôi lảo đảo ra về đi ngang con Mực, tôi đưa chân đá nó một cái cho bỏ ghét. Sau kỳ tích nầy, tôi thề không đi bắn chim mà cũng không dám nhảy mương nữa nếu cần tôi kiếm một cây cầu dừa cho chắc ăn./-

                                             5.NẤM MỐI

              alt     alt

 Nấm mối đã nở và còn búp

 

       Rạch Miễu cũng như Bến Tre có những cái mà các nơi khác không có. Đó là nấm mối. Tại sao? Vì nấm mối là một loại nấm phát triển do meo của một hổn hợp từ cây mục đặc biệt phải là cây, lá và rể dừa và phải là nơi đất cao ráo để có một loài mối làm ổ. Đàn mối nầy tiết ra một chất dịch hoà quyện với môi trường đất, phân mục của cây dừa để vào giai đoạn “trời sa mưa giông”, vào tháng 4 tháng 5 hàng năm, đất ẩm do nước mưa đầu mùa cùng với nhiệt độ thời tiết tăng, tạo ra một chất meo thành nấm và đó lá nấm mối.

       Nếu chỉ có vậy thì nấm mối có gì khác hơn nấm rơm, nấm mèo...đâu mà nói.    Không đâu thưa các bạn, sản phảm “made in Rạch Miễu”, thì luôn luôn...có chuyện và là chuyện ly kỳ...cục. Ở Rạch Miễu chủ vườn dừa nào cũng vậy khi “trời sa mưa giông” biết là mùa nấm mối đến, sáng dậy thật sớm nơm nớp ra bờ dừa đi từ bờ nầy qua bờ kia, mắt dáo dác nhìn vào các mô đất hồi họp kiếm, tìm....nấm mối. Không có hay đúng ra là không thấy, trở vào nhà uống trà hút thuốc rồi lại trở ra.... mắt lại dáo dác nhìn vào các mô đất hồi họp kiếm, tìm....nấm mối. Cũng không có hay không thấy.

       Việc nầy không phải một lần, hai lần mà không biết mấy lần trong ngày. Sự nhẫn nại lập đi lập lại động thái ....lẩm cẩm nầy không phải là không lý do. Bỡi vì có gấp gì đâu, nấm mối mọc và phát triển nhanh lắm, đồng ý nhưng ít ra cũng phải 24 tiếng nó mới nhổ được – xin nhớ nhổ nấm mối mới đúng - mà nó mọc trong vườn của mình, sáng nầy kiếm không có thì sáng hôm sau, ai giành giựt đâu mà...lính quýnh vậy. Nhưng không, có nhiều lý do khiến cho ông chủ vườn nhà ta lo lắng, bồn chồn....

       Lý do thứ nhất là nấm mối mọc và phát triển rất nhanh nhưng điều nầy cũng không là nỗi lo lớn mà chính là vì nấm mối ...có ma. Chẳng hạn ngay ông chủ vườn mỗi sáng năm lần bảy lượt ra tìm kiếm mà không thấy. Thế mà ngay khi ông vừa đi qua khỏi một người khác lại phát hiện ra, thế là “họ”, họ là ai, đoạn sau các bạn sẽ biết, lại khám phá ra và lấy ngay một vật gì đó một cục đất, một khúc cây, một tàu lá...đánh dấu xí phần. Thế là đủ cho một sự thừa nhận một cách mặc nhiên quyền sở hữu. Ôi! Một hành động có tính dân chủ...tuyệt vời, một truyền thống “văn hoá nấm mối” đáng trân trọng.

       Những người tìm nấm mối mà đi ngang ổ nấm mà không thấy nhưng lạ thay người di sau lại thấy. Cho nên người ta cho nặng bóng vía hay nhẹ bóng vía. Cái vụ nầy chắc phải hỏi lại mấy ông thầy “nhạy cảm”.

       Còn một chuyện nữa. Các bạn không biết đâu, vườn của bạn đó, nấm mối mọc trong vườn của bạn đó, nhiều khi sát bên vách nhà bạn nữa. Vườn lại có rào. Nhà lại có chó. Chủ vườn lại có hèo gậy. Nhưng tất cả điều nầy không đủ “biện chứng” là nấm mối đó là thuộc quyền sở hữu của bạn đâu. Một cái luật bất thành văn – đã bất thành văn thì bất thành ...xử - nên ngoài bạn là chủ...sản phẩm trời cho nầy thì ai cũng có quyền đó cả từ thằng cha lối xóm tối ngày đi đá gà cho đến con Mẹ Hai bán bánh tét, cả một bầy con nít như thằng Đực móm, thằng Nghĩa ù học trò “ngoan” đàng hoàng, con Đẹt lé, thậm chí có cả con Hương con ông chủ lò bánh tráng giáu có ra phết...mà cũng lăm le vào vườn bạn....nhổ nấm. Bạn cự nự chứ gì? Không đâu bạn ơi, cái lệ nầy cái lệ coi nấm mối là của trời cho thì ai gặp trước là hưởng và như nói trên...điều oái oăm nầy đã là luật bất thành văn từ đời...Tây ăn trầu rồi.

       Có điều chủ vườn phải nhịn mà tròng bụng cứ ấm ách mãi. Cho nên ta thấy ông chủ vườn và cả nhà ông từ vợ ông, con công đến cháu ông...khi mùa nấm mối đến, dều phải “tranh thủ” ra vườn mình tìm ra ổ nấm mối xí phần trước sản phẩm ngay trong ngôi vườn ông bà mình để lại.

       Cũng nên nói thêm là nấm mối rất....ngon, ngọt nước nhất là hiếm có chỉ có ở vườn dừa Bến Tre mà thôi, mà không phải vườn nào cũng có đâu. Của trời cho mà. Nấm mối làm gì cũng ngon: xào không với lá cách, xào với thịt, thịt nào cũng được kể cả ếch, nhái cùng với xả ớt, đổ bánh xèo, cuốn lá cách nướng, kho tương nếu nghèo, nấu lẫu Thái nếu có tiền.

       Thêm một chuyện nữa nấm mối là món ăn chay đạm bạc mà các vị tu hành nâu sòng thích lắm. Giá một kg nấm mối tươi gắp 3 lấn giá một kg thịt heo. Còn nấm mối khô để dành chớ không phải để “giành” ăn quanh năm thì giá gấp bội, người ta chỉ dám mua để cống hiến hay cúng...chùa thôi.

 

       Tuy nói là nói vậy chớ bên Âu châu việc vào rừng tranh giành hái nấm cũng giống như ở Rạch Miễu ta giành hái nấm mối thôi./-

                                             6 .SOI NHÁI

                     alt

 

       Lập vườn thì phải khai mương. Làm trai hai vợ......Câu thứ hai không liên quan gì đền bài viết nầy nên tác giả bỏ đi. Đúng vậy, lập vườn thì phải khai mương nhất là vườn dừa vì dừa cần rất nhiều nước để phát triển. Cho nên cứ mỗi bờ vườn là một cái mương. Những con nước rong từ sông cái đổ vào mương chẳng những đem nước vào mà còn đem cả phù sa vào mương. Hằng năm nhà vườn hốt mương tức là hốt phù sa đọng lại trong mương bồi lên bờ, lên gốc dừa.

       Vào đêm, khi mực những con nước rong lên mấp mé các bờ mương cũng là lúc lũ nhái trèo lên bờ ngồi rình mồi từ những côn trùng trên bờ lẫn những con cá con, cá lửng cửng lửng lơ trên mặt nước.Vô tình lũ nhái nầy lại là đối tượng của những cuộc... soi nhái của dân vườn.

       Soi nhái vào đêm, ngày xưa làm gì có đèn pile, đèn khí đá...chỉ có đuốc để soi đường. Đuốc tức là cây rọi mà ở vùng Rạch Miễu, vật liêu làm đuốc lẽ tất nhiên là lá dừa. Chỉ cần chặt khúc đuôi của một tàu dừa khô thêm vào một ít lá nữa ốp lại thành một bó tròn cở cườm chân dài từ 1 đến 2 m để mỗi khi cần đi đêm, chỉ ra nhà sau - hay là nhà dưới - rút một cây đuốc đốt lên, thế là có một cây rọi tiện lợi rẽ tiền cả việc dùng nó để xua đuổi mấy con chó chạy theo sủa...phá đám,

       Một người đi đêm, đường xa lỡ hết đuốc có thể vào nhà của bất kỳ ai bên đường xin một cây đuốc để tiếp tục cuộc dạ hành. Nhà ai cũng có dự trữ đuốc và sẵn sằn cho mọi sự giúp đỡ như vậy. Dân Rạch Miễu, hào hiệp mà! Vậy đi soi hay săn nhái về đêm cũng chỉ cần đuốc.

         Trong các cuộc săn bắt chỉ có săn nhái là có tính nghệ thuật cao, mặt đối mặt, tay không với chân không, nhanh thì thắng chậm thì chết...một cách quân tử hảo hán như vậy. Còn những cách săn bắt khác thì lại dùng những phương tiện không mấy...anh hùng mã thượng chút nào. Chẳng hạn săn bắn chim thì người ta dùng ná thung, cung tên, ná lãi, rồi súng ống, súng 1 lòng, 2 lòng, đạn viên, đạn chài...Săn băn muông thú thì lại dùng thêm bẩy, rập cả dùng súng lớn súng nhỏ, óng ngắm...núp núp núp rình rình bắn lén. Còn việc câu hay săn bắt cả cũng vậy nào là lưỡi câu ngạnh thép nào là mồi thơm dụ cá còn có cà chài lưới, đăng đó...lẫn cả chất nổ. Toàn là phương tiện bẩn thỉu. Chỉ có soi nhái là không lừa đảo, không gian trá ai nhanh tay thì thắng. Do đó tôi là thành viên của hội soi nhái không tên trong làng tôi.

       Hôm nay, 17 âm lịch, nước rong, đêm vế, tôi nháy mắt cho thằng em tôi, nó hội ý ngay nên nó chạy ra nhà sau rút 3 cây đuốc. tiện tay lấy cái đụt đeo vào vai. Chúng tôi đốt 1 cây đuốc, còn 2 cây thằng em tôi cặp vào nách thế là chúng tôi băng vào đêm tối đi...soi nhái. Con Phèn ngẳng ngẳng đòi theo, thằng em tôi đá nó một cái, nó mà đi theo chỉ có cái làm loạn cả lên mấy con nhái nhảy tuốt xuống mương hết.

       Tôi đi trước mắt lom lom nhìn mé mương lé đé nước, thằng em tôi đi sau giơ cao ngọn đuốc soi đường. Trăng 17 lên chưa lên đến ngọn dừa, ánh trăng huyền xuyên kẻ lá chập chờn nhảy múa theo bước chân chúng tôi. Thỉnh thoảng tiếng tôm tích búng “tốc” một tiếng khô khan nhưng quen thuộc. Những con cá thòi lòi nương theo mực nước leo lên bờ kiếm mồi, giương đôi mắt như hột cườm đỏ vô tư nhìn chúng tôi. Một vài con cá trắng nhởn nhơ dưới mương giựt mình vội chao mình lặn xuống nước mất tăm khi nghe tiếng chân người. Những con đom đóm lạt loài chập chờn ánh lân tinh bay lượn như trình bày một màn dạ vũ lẻ loi...

       Tôi chợt đứng lại giơ tay ra dấu cho thằng em tôi đứng lại. Nó khẻ giơ ngọn đuốc lên cao. Một con nhái xuất hiện, nó hoàn toàn choá mắt vì ánh đuốc, đang ngồi chổm trên một mô đất, rình rậpi...Như con hổ gặp mồi, tôi nhanh nhẹn chùi xuống, tay trái vừa chống đất tay phải đã nắm gọn một chú nhái bự xộn, nó không kịp kêu một tiếng. Tôi thả con mồi đầu tiên vào cái đụt với ít nhiều kiêu hảnh. Tôi vừa tả cảnh chụp nhái của tôi như con hổ gặp mồi cho độc giả nghe hơi cường điệu một chút, chớ thật sự khi đứng lên, đầu gối trái của tôi bị một vết sướt rớm máu mà tôi cắn răng không nói ra sợ thằng em tôi nó hố vì nó vừa nịnh tôi một câu “Trời anh Hai số dzách”.

       Đi hết một bờ tội chộp được 5, 7 chú nhái chớ cũng để sẩy hết mấy chú. Tiếp tục cuộc soi nhái gần hết khu vườn, đụt đựng con mồi cũng khá nặng, cây đuốc cuối cùng cũng gần tàn, chúng tôi định quay trở về để làm một nồi cháo nhái. Trên đường quay về chúng tôi tìm một con đường khác hy vọng tìm thêm được vài con nữa.

       Muốn là được, câu cách ngôn tôi học của mấy ông Tây thực dân cũng hay. Đúng vậy vì trước mắt tôi là một chú nhái to bằng nắm tay đang chăm chú nhìn vào một con trùng vì nước ngập nên ngoi lên bò trên bờ. Lợi dụng chỗ con nhái đang rình mồi, đây là dịp tốt nhất nên tôi nghĩ là việc bắt chú nhái nầy sẽ chắc mẻm nên không đắn đo, không nhìn truóc nhìn sau...nhào xuống...a lê...chụp.

       Tôi bỗng nghe thằng em tôi la “oái” thì tôi vừa chụp không phải con nhái mà... cái đuôi con rắn. Tôi cũng la “oái” nhưng tiếng oái của tôi còn lớn hơn của thằng em tôi. Cái đuôi con rắn lạnh ngắt nhưng trơn lùi vuột khỏi tay tôi và xương sống của tôi cũng lạnh ngắt.

       Thì ra như trong thơ ngụ ngôn của La Fontaine, một sự rình rập tương quan lẫn nhau giữa ba đối tượng chỉ muốn sát hại nhau. Số là con nhái đang rình con trùng, tôi đang rình con nhái rồi một con rắn – may là rắn nước – lại rình con nhái. Thế là cùng một lúc tôi và con rắn tấn công con nhái nhưng.... may quá tôi chậm hơn con rắn nên chụp vào đuôi nó nếu tôi nhanh như nó chắt là tôi chụp ngay đầu nó rồi.

       Bữa cháo nhái đêm đó, tôi ăn không thấy ngon và mãi về sau tôi giã từ cuộc đi soi nhái. Ngồi đây viết lại kỷ niệm nầy tôi còn có cái cảm giác lành lạnh rợn người của tôi khi tay tôi nắm vào con rắn trong cuộc đi soi nhái cuối cùng của tôi./-  

 

                                 7. ÔNG ĐẠO DỪA

               alt

 

Cồn Phụng còn gọi là cồn ông Đạo Dừa

 

       Nói tới vùng Rạch Miễu, nói tới xứ dừa mà không nói tới ông Đạo Dừa thì thật là một thiếu sót. Từ thập niên 1950 trờ về sau tại vùng Rạch Miễu nói riêng tỉnh Bến Tre và tỉnh Đinh Tường nói chung, có một vị giáo chủ của một giáo phái mới ra đời đã xây dựng một ngôi chùa trên cồn Nổi tức là cồn Phụng thuộc xã Tân Thạch. Vị giáo chủ nầy là ông Đạo Dừa. Ông Đạo Dừa tên thật là Nguyễn Thành Nam sinh vào năm 1909 tại xã Phước Thạnh tỉnh Bến Tre tức là dân Rạch Miễu chính cống.

       Ông xuất thân từ một gia đình quyền quí và giàu có nên đi du học bên Pháp từ thuở nhỏ. Ông học tại Đại học Rouen và về nước với bắng kỷ sư hoá học. Lúc đầu ông về nước có một thời kinh doanh làm xà bong đúng với sở năng của ông và cũng đúng với vùng ông ở là xứ dừa mà nguyên liệu chính làm xà bong là dầu dừa, Nghiệp bất phùng thời, công việc làm ăn không kết quả, ông bỏ nghề và ngao du đây đó.

       Chiến tranh Việt Pháp nổi lên ngay trong quê hương ông ở vùng Rạch Miễu ngay cả xã Phước Thạnh, xã của ông. Mỗi lần nghe Tây vào làng ruồng bố thì ông áp dụng chiến thuật trong 36 kế...dĩ đào vi thượng sách nên ông leo tuốt lến ngọn dừa, bó đọt trốn chờ khi Tây về ông leo xuống. Mấy thằng lính Tây cũng hưởn, không biết làm gì cứ vào làng ruồng bố hoài khiến ông leo lên leo xuống cây dừa mãi cũng mệt, nên ông nhất định...định cư luôn trên ngọn dừa,

       Rừng dừa ở vùng Rạch Miễu bạt ngàn, mà ngọn dừa lại cao ngất mây xanh nên mấy thằng lính Tây cũng không chịu khó ngốc đầu lên tìm. Vậy nơi trú ẩn của ông trên ngọn dừa là an toàn nhất. Thế rồi dù phải trốn giặc, nhưng nhu cầu cho sự sống vẫn có. Trong các nhu cầu cấp thiết nầy ...ăn uống là trước hết. Thế là ông mang theo một con dao phai, mỗi lần đói bụng khát nước ông chỉ cần đưa tay bẻ một trái dừa nạo hay cứng cạy, bổ ra và thế là có một bữa giải khát, một bữa ăn no nê, tinh khiết nhất là không sát sinh, điều mà ông thường suy ng

       Trong thời gian bó đọt – có lẻ tôi nên nói rõ từ nầy mới được. Thường là những con chồn, con sóc bị săn đuổi trên ngọn dừa, chúng leo vào củ hủ dừa tức là đọt cây dừa kín mít trốn trong đó, người dân gọi là bó đọt – ông không biết làm gì nên có thể ông vận dụng trí não nghĩ về chiến tranh, về vận nước, về nhân tình thế thái...nên ông sáng tạo một con đường, theo ông, có thể giải quyết được mọi chuyện mà ông đem ra thực hiện qua ngôi chùa xây cất tại cồn Nổi mà sau nấy ông đặt tên là Cồn Phụng.

        Ngôi chùa nầy dân gian gọi là chùa ông Đạo Nam, chùa ông Đạo Dừa hay thân mật hơn chùa ông Hai, một thời là điểm hành hương đông đảo của khách thập phương. Vào đầu thập niên 1960, danh tiếng cồn ông Đạo Dừa đã ra khỏi Việt Nam nên tuần báo Paris Macth của Pháp đã cử ông Raymond Cartier, một phóng viên quốc tế lớn đến tại cồn ông Đạo Dừa trong một tuần lễ để làm một thiên điều tra phóng sự dài.

       Vậy biệt danh Đạo Dừa theo dân gian là do lúc ông leo lên ngọn dừa để tránh giặc và ông đã ăn dừa để sinh sống, nhờ rừng dừa che chở ông khi Tây ruồng bố...cho nên dân gian đã gọi ông là ông Đạo Dừa là như vậy. Cũng có lúc ông tự xưng và dân gian cũng gọi ông là ông Đạo Vừa, ý nghĩa của Đạo Vừa có tính ẩn dụ một chút. Mà khi nhìn kỹ ta thấy ngay nơi ông vẻ dí dóm, nếu nói hơn một chút là lém lỉnh, nhưng nói thiếu một chút là ranh mảnh... qua cặp mắt ông và miệng của ông. Ông thường hay chơi chữ...do đó không có gì lạ khi thì Đạo Dừa khi thì Đạo Vừa và nhiều từ, cụm từ không tiện viết ra đây..

       Có một lần tôi đang là thơ ký cho Đại học Tiền Giang vào năm 1973, tôi được yêu cầu đưa hai vị giáo sư người Mỹ, một nam một nữ viếng thăm cồn ông Đạo Dừa. Bà giáo sư tỏ ra thích thú và tò mò trước hình ảnh và tác phong Ông Hai (du khách thích gọi ông Đạo Dừa như vậy). Ông Hai ra dấu nhờ tôi giới thiệu phi thuyền Apollo made in Việt Nam do ông chế tạo đang treo tòn ten trên giàn phóng gần chỗ ông ngồi. Tôi phải khó khăn lắm, vừa bằng tiếng Pháp lá mít, vừa bằng tiếng Anh lá me, vừa bằng hai tay ra dấu ...giải thích công trình khoa học của ông cho cho hai vị giáo sư nầy nghe. Áng chừng họ cũng không hiểu bao nhiêu, nhưng ông Hai lại ra dấu cho tôi – ông tịnh khẩu từ ngày ông tu – bảo nói thêm là Apollo Viêt Nam của ông tốt hơn Apollo của Mỹ vì nó rẻ hơn, bay cao hơn trên thượng tầng không khí....Tôi chưa kịp dịch thì hai vị giáo sư nấy có lẽ qua lối ra dấu của ông Hai - một ngôn ngữ quốc tế phổ biến nhất – nên dường như họ cũng đã hiểu ông Hai muốn nói gì nên họ kéo tôi đi.

       Chuyện ông Đạo Dừa kể ra đây chỉ là một dấu chấm phá, một giai thoại của xứ dừa vùng Rạch Miễu và cũng theo dân gian truyền lại, theo chủ đế chính là Rạch Miễu quê tôi. Tóm lại xin chỉ xem đây là một giai thoại nghe chơi rồi bỏ.

                                                                                       Hoài Văn

 

 


 

 

Last Updated on Tuesday, 23 July 2013 17:39
 

Xem những bài viết khác của Tác giả Hoài Văn