Skip to content

NĐCLNH Úc Châu

Increase font size Decrease font size Default font size default color light color
Home Các Bài Viết Truyện Ngắn Một tấm lòng...
Một tấm lòng... PDF Print E-mail
Written by Mười Trí   
Saturday, 19 April 2014 06:56

Mt tm lòng...

 alt

     Sáng nay dậy sớm hơn mọi khi, ngồi nhâm nhi chén trà ngó ra vườn nhãn sau hè oằn trái, những chùm nhãn xuồng, nhãn hạt tiêu trái bónh lưởng no tròn sắp chín đong đưa trong gió, tỏa hương thơm ngạt ngào hòa lẫn trong ánh nắng diệu hiền của buổi ban mai, tiếng chim kêu rối rít gọi đàng làm hai Đực thấy lòng khoăn khoái làm sao.

     Từ khi anh đốn mấy công dừa của mình, bắt chước người ta lập nên vườn nhãn, trong lòng lúc nào cũng phập

alt

phồng lo sợ, hổng biết có nên thân nên hình gì hông, nay thì nỗi lo âu đã hết, chắc ăn như bắp rồi còn gì nữa mà phải lo với âu, nhãn trái chiếng của anh trúng mùa thấy bắt ham, tiền kể như vài ba hôm nữa là bỏ vô túi. Nghĩ tới đây, Hai Đực vui ra mặt, Cái công khó nhọc chăm sóc vun trồng phân phướng bấy lâu nay được đền bù xứng đáng., có vậy mới được chớ… Ngồi hứng chí nghĩ bâng quơ thấy vợ đang lui cui vo gạo ngoài sàn nước nấu cơm cho mấy đứa nhỏ ăn dằn bụng để đi học, anh thỏ thẻ:

          -  Lúc trước tui mà nghe theo lời ông tư Kiên ở xóm trên bây giờ chắc tức hộc máu, một hai ổng cản biểu nên giữ lại vườn dừa. Cái ông già gì cổ lỗ sĩ quá chừng, hổng biết theo thời thế gì hết, nay cả xóm ai nấy đều hốt bạc, còn ổng trớt he, có vậy cho ổng sáng mắt ra, hết làm tài khôn…

     Chị vợ lui cui bưng nồi cơm vô nhà để lên lò ràng, cho củi vào lấy bó lá dứa đốt lửa lênmồi cho cháy, rồi quay ra nhìn anh nói:

          -  Cổ lỗ cái gì! Trồng dừa ít công chăm sóc, chỉ cần mần cỏ, móc mương bồi năm một hai lần , mỗi tháng tới lứa giựt gom về bán là xong, còn trồng nhãn phải bón phân, phải tưới hàng ngày, khi nhãn trỗ bông tượng trái phải mua lưới về bao, khi nhãn sắp chín phải xịt thuốc trừ sâu...ôi thôi đủ thứ. Ổng già rồi xoay trở sao cho xuể. Nếu cái gì cũng mướn hết lấy gì ăn nên ổng mới nói vậy. Hơn nữa người ta khá giả có con ở nước ngoài hỗ trợ tội gì phải chịu cực khổ, đâu phải như mình làm mướn kiếm cơm từng bữa chớ cái gì mà cổ lỗ sĩ với hổng cổ lỗ sĩ. Ông sao khéo nghĩ.

     Hai Đực để tách trà đang uống xuống bàn cãi lại vợ:

           - Nói như bà thì tui nói mần chi, Đằng nầy ổng cứ làm kỳ đà cản mũi, đi hết đầu trên tới xóm dưới nói nào là bấy lâu nay quê mình nổi tiếng xứ dừa, cây dừa là cây công nghiệp, tuy hổng có giá bằng nhãn như bây giờ nhưng ăn bền, cho lá chụm, cho thân làm nhà… cây dừa là bóng mát quê hương, biểu tượng của quê nhà, ôi thôi ổng nói đủ thứ. Mình phải theo thời chớ, trồng cái gì có tiền nhiều thì trồng, để còn ngóc đầu lên với thiên hạ chớ. Biểu tượng con khỉ khô gì để đói meo râu, nghèo xơ xát à? Tui nghe ổng nói thêm bắt mệt.

     Chị vợ cười xoà:

          -  Thì ổng nói gì ổng nói, ông làm gì ông làm, ai biểu ông nghe đâu mà mệt với hổng mệt.Có nghe ông nói tui bắt mệt thì có.

     Nghe vợ nói vậy anh Hai lườm một cái hỏi lại:

          - Tui nói gì đâu mà bà bắt mệt?

          -  Thì cứ nhắc đi nhắc lại chuyện của ông tư Kiên hoài thấy bắt mệt chứ sao.

     Nói rồi chị quay vô buồng kêu mấy đứa nhỏ dậy đánh răng, thay quần áo, ăn cơm để đi học, chị còn phải bưng mấy chục hột gà ra chợ Rạch Miễu bán, mua chút ít thịt cá về cho mấy đứa nhỏ đổi món. Thấy con ăn kham khổ hoài cũng tội.

     Rồi hổng biết cao hứng sao, Hai Đực quay sang vợ nói:

           - Bán xong đợt nhãn nầy tui sắm HonDa để đi đây đi đó cho có với người ta à bà!

     Nghe chồng nói vậy, chị Hai xí một tiếng kéo dài:

          -  Xí! Chưa chi đã muốn học làm sang, ông mà đi đâu đòi sắm xe với cộ?

     Hai Đực cười hề hề:

          -  Có tiền thì mình sắm cho có với người ta, rồi lâu lâu bà có đi đâu tui chở bà đi hổng sướng hơn hông. Chi bằng hễ có chuyện cần là phải đi HonDa ôm. Mỗi lần thấy bà đeo đít mấy thằng chạy HonDa ôm tui đây phát nóng.

Chị Hại lại xí một tiếng kéo dài:

           - Xí! Tui già rồi ai thèm. Đừng làm bộ mượn cớ ghen ông ơi. Cám ơn ông có lòng tốt lo cho tui, chớ cái bản mặt ông mà chạy xe gắn máy đố cha ai dám ngồi. Đi nhậu về chạy xe đạp còn té lên té xuống u đâu sứt tráng hoài, chạy xe HonDa chỉ có nước đem xác về chôn.

     Hai Đực cố cãi lại vợ:

          -  Chạy xe đạp khác, chạy xe HonDa tui kỹ hơn, ngu sao chạy ẩu cho chết để vợ con lại cho thằng khác nó xài à!

Chị Hai lắc đầu lia lịa:

           - Nói xàm gì nữa đây! Thần men nhập vô rồi, trời cản hổng được nữa ở đó mà kỹ.

           - Nhưng đó là mơ ước của tui bấy lâu nay đó bà à!.

Chị Hai nhìn anh trừng mắt:

           - Sao hổng mơ có được ngôi nhà đẹp như nhà ông Tư Kiên? Ông bà mình thường nói, sống có nhà, thác có mồ sao ông không mơ? Mơ chi xe Hon da, hơn nữa xe để lâu nó mục chớ tiền hổng có mục. Tui định kỳ nầy sửa lại nhà cho khang trang, và cho thằng Tý nghỉ bán vé số luôn, Chớ để thằng nhỏ sáng đi học, trưa về bán vé số hoài sợ hổng có thì giờ nhiều học hành để theo kịp người ta. Mình cả đời làm mướn, sắm được mấy công đất đây là phước lắm rồi, nay có điều kiện, nên cho con có chút ít chữ nghĩa mà vươn lên với đời.

     Chị Hai nói chí lý quá, Hai Đực ngồi gục gặc đầu cười hề hề:

           - Tui nói là nói vậy chớ bây giờ tiền chưa vô một cắc lấy đâu để sắm xe mà bà cãi y như rằng.

     Chị Hai cũng cười:

           - Thì ông nói, tui cũng nói cho ông nghe vậy thôi chớ tui có cãi cọ gì đâu, mới sáng chưa chi muốn kiếm chuyện hả? Ông nầy lảng nhách chưa.

     Nói rồi chị ngúych yêu anh hai một cái , đi thẳng ra nhà sau cho gà vịt ăn, để rồi còn đi chợ. Anh Hai cũng đứng dậy xách cuốc ra sau vườn, ai lo công chuyện nấy.

******

Trưa trời nắng gắt, chị Hai đi chợ về trông hớt hơ hớt hải, vội vã như có chuyện gì gắp lắm, vừa tới cửa chưa kịp vào nhà đã ong óng nói vọng vô:

       -  ông ơi ông ơi! Thôi chết rồi ông ơi, cái điệu nầy mình chết là cái chắc.

     Làm cả buổi ngoài vườn, đói bụng vô bếp lui cui lục lọi kiếm cơm ăn, nãy giờ hơi bực mình sao con vợ đi chợ cà kê dê ngỗng gì ngoài ngoải mà trưa trờ trưa trật chưa chịu về nấu cơm, bỗng nghe tiếng ơi ới của vợ ngoài cửa, cái gì mà chết chết, nổi nóng anh Hai lớn tiếng:

       -  bà biết bây giờ là mấy giờ rồi hông? Tui đói bụng gần chết, trong bếp chẳng có gì ăn. Hổng mau vô nấu cơm ở đó mà chết chết với sống sống. Tui thấy bà còn đi đứng nói năng xong xõng đó chớ chết chóc gì đâu mà chết?

Chị Hai mặt mài tái mét nhìn chồng nói như muốn khóc:

        - Chết đói cả lũ đến nơi ở đó ông còn nói giả ngộ. Ngoài chợ hồi sáng nầy giá nhãn bán lẻ từ mười mấy ngàn, nay xuống chỉ còn hai ngàn đồng một ký, hổng bằng cái lẻ của hôm qua, tui đi dọ khắp nơi rồi, kể cả chợ Bên tỉnh, chợ Mỹ Tho chỗ nào cũng vậy. Còn vựa thì hổng chỗ nào chịu thu mua nữa hết, nhãn mình lại sắp chín tới nơi. Giá lại bèo, Cái điệu nầy bây giờ bán ra gom lại hổng đủ trả phân nửa tiền mua phân...

     Nói tới đây chị làm thinh nhìn chồng rưng rưng nước mắt. Anh Hai nghe qua rịn mồ hôi tráng, bủn rủn tay chân, sững sờ nhìn vợ trân trân thì thào như người sắp chết:

         - Thiệt vậy hả bà?

     Chị vợ đưa tay áo lên quẹt nước mắt:

        - Bộ ông tưởng tui nói giỡn chơi sao! Hồi nãy tui có ghé qua nhà chị Tám Thắm, ảnh chỉ cũng đang chết đứng chết ngồi, chạy kiếm mối bán đổ bán tháo mong lấy lại được đồng nào hay đồng nấy, nhưng có chỗ nào chịu mua đâu. Ông thử nghĩ coi, giá bán lẻ hai ngàn, giá sỉ tại gốc trừ chi phí cho người hái, tiền chuyên chở còn bao nhiêu? Cho không chưa chắc mối chịu tới hái. Chết chắc cả lũ rồi ông ơi.

Anh hai khoác tay lia lịa:

        - Thôi bà đừng nói nữa, tui điên lên mất.

     Quên mất tiêu mình đang đói bụng, anh ra sau hè nhìn vườn nhãn, không biết nghĩ sao lại trở vô nhà lấy xe đạp dong mất, chị Hai cũng chẳng buồn hỏi chồng đi đâu, lòng dạ nào đâu nữa mà hỏi. Mới hồi sáng hai vợ chồng còn năng nổ bàn tính chuyện sửa nhà mua xe, chiều về thì tan tành theo mây khói...

     Nhá nhem tối mới thấy Hai Đực chân thấp chân cao đẩy xe về nhà, dựng vô vách, leo lên võng nằm hát nghêu ngao: - ” Uống rượu không say nào hay ”được một hồi là nghe tiếng ngáy pho pho.... Chị hai chỉ còn biết nhìn chồng dậm cẳng kêu trời:

        - Trời ơi là trời! Chết đói tới nơi hổng lo, chỉ biết lo ăn với nhậu. Vui sướng gì đó, sao tui bạc phần bạc phước quá vầy nè trời...

Chị có biết đâu rằng tuy bề ngoài là vậy chớ trong lòng anh cũng đang chết đứng chết ngồi có thua kém gì chị đâu, nông dân thật thà chất phác lại đụng chuyện như vầy, bây giờ biểu tính, làm sao ảnh tính. Phải chi tính chuyện làm mương phát vườn , hay cuốc lật đất ruộng thì lẹ lắm, còn mấy cái vụ nầy chỉ có nước phó mặc cho trời.

Chừng hai Đực tĩnh rượu, trời đã nửa khua, rón rén bước vô buồng ngủ, thầy vợ vẫn còn nằm trằn trọc trên giường, anh nói khẽ:

       -  Bà chưa ngủ sao! Tui chán quá rồi. Thời buổi gì kỳ cục quá, nay vầy mai khác làm sao người ta biết để sống đây. Như má mầy biết đó, mấy năm trước, nhãn còn non èo, hột chưa tượng cơm mà lái buôn Trung Quốc nó vô lục lọi giành giựt mua mười mấy ngàn một ký, nhiều người trồng một vài cây chơi quanh nhà, tự nhiên hốc bạc, thấy vậy tui mới ham. Bây giờ tới phiên mình, ai mà dè cớ sự thế nầy! Phải chi chết được, tui chết phức cho rồi. Phải chi hồi trước nghe lời ông Tư thì đâu đến nỗi.

Chị Tư ngồi bật dậy, thều thào:

       -  Còn ông nữa, nhà có chuyện hổng lo, còn đi nhậu cho đã rồi về ngồi đó mà phải chi với hổng phải chi. Sắp chết đói tới nơi làm sao tui nhắm mắt cho được. Còn ông vui sướng lắm sao mà bỏ đi nhậu, tui tính nát nước rồi, hổng còn cách nào hơn là ngày mai tui với ông tới nhà ông tư Kiên, nhờ giúp đỡ.

Nghe vợ nói vậy, hai Đực hơi áy náy trong lòng:

        - Tuy là ổng tốt bụng, nhưng hồi trước ổng cản mình hổng nghe, bây giờ có chuyện lại đi nhờ ổng, biết ổng có chịu giúp hông.

        - Cùn đường rồi cứ nhờ chớ biết sao!

To nhỏ một hồi, hai vợ chồng mới nằm xuống ngủ, kẻ tặc lưỡi, người thở dài, thật tội nghiệp cho người nông dân thời nhà nước đổi mới.

 

                                                                     ***

Thằng Tí chạy xe đạp khá nhang, quanh cái rẹt, quẹo vô nhà ông Tư Kiên, dựng xe lên hàng mái đầm, rồi đến lu nước mưa mở nắp sẵn, có cái gáo dừa để phía trên, múc một gáo đưa lên miệng ực một hơi, hả họng khè ra như người ta uống rượu. Ông Tư ngồi trong nhà cười thành tiếng :

       -  Bộ khát dữ lắm sao mầy múc nước hổng gạt lăng quăng vậy mậy?

Thằng Tí vừa thở khè khè vừa nói:

        - Chết chóc gì ba thứ đó ông!

Nói rồi nó để gáo dừa lại chỗ cũ, bước vô thềm nhà, đến gần ông Tư nói:

        - Bữa nay ngoài xã mình có chuyện lạ.

Ông Tư nhướng mắt:

        - Chuyện gì mà lạ?

Nó tỏ vẻ thán phục:

        - Hổng biết ai chơi ngon, mở quán cơm chay bán, mỗi phần ăn muốn trả bao nhiêu cũng được. còn nếu hổng có tiền ăn không.

        - Rồi mầy có ghé đó ăn thử chưa?

Nghe Ông Tư hỏi, thằng Tí trả lời có vẻ hơi tiếc:

      -  Có biết đâu mà ghé! Tui nghe tụi bán vé số chung đường nó nói, tới nơi hết giờ người ta dẹp rồi, ngày mai tui canh giờ thế nào cũng đến ăn thử cho biết.

Từ khi vợ chồng Hai Đực bị xổng tay trên vì nhãn, thằng Tí cũng vạ lây, phải nghỉ học luôn, ngày ngày đi bán vé số phụ giúp ba má nó trả nợ tiền phân, kiếm phụ được đồng nào hay đồng nấy. May nhờ ông tư Kiên thấy hoàn cảnh túng thiếu của ba má nó, rủ lòng thương giúp vốn trồng lại dừa chuối. Nên nó biết ơn ông Tư lắm, ngày nào đi ngang qua nhà ông tư, nó đều ghe vô uống nước, có khi kể cho ông nghe những chuyện nó gặp bên ngoài.

     Lếu láo nói chuyện với ông Tư một hồi rồi nó cáo từ, ra hàng lu lấy xe đạp tiếp tục đi bán cho hết mấy cùi vé số còn lại. Ông tư nhìn theo lắc đầu thương cho thằng bé thông minh giỏi giắn nhưng không có điều kiện đi học…

 alt

   Thằng Tí canh đúng mười một giờ trưa, đạp xe ra chợ Rạch Miễu, tới quán cơm chay Thiện Tâm, đứng sắp hàng lấy tài, đa số khách hàng là đồng nghiệp của nó với dân lao động chân tay trong chợ. Nó nhủ thầm:

        - Mới mở hôm qua, mà bữa nay đông nghẹt…tin đâu mà lẹ quá! Hay thiệt.

Rồi nó nghĩ lại, chắc cũng như mình, nghe tin từ bạn bè nói đây chớ có gì đâu hay. Chờ tới khi người ta ra phát vé trong đó ghi số thứ tự để vô ăn cơm, nó vô cùng kinh ngạc khi thấy người phụ giúp trong quán toàn là những người quen trong xóm. Nào chị Tám Ấn con chú hai Ngọc, thím Tư Lành, dì ba Được, dì bảy Nga, cô hai Thôi… Chị Tám Ấn lãnh phần phát vé, thấy thằng Tí chị cười tươi hỏi:

       -  Ủa! Mầy cũng biết nên tới đây ăn cơm hả Tí?

Thằng Tí gục gặc đầu:

       -  Dạ! Mấy đứa bạn nó chỉ. Mà ai là chủ quán? Làm sao chị biết để xin vô làm được ở đây hay quá vậy chị Tám?

       -  Hay cái gì mà hay, tao làm thiện nguyện phụ giúp chủ quán thôi chớ có tiền bạc gì đâu mà hay. Còn ai là chủ quán, mầy còn nhỏ, có ăn được rồi, biết để làm gì!

Bộ còn nhỏ, biết những người có tấm lòng tốt hổng được à! Nó muốn cãi lại với chị Tám hết sức, nhưng chị Tám đã quay qua người khác tiếp tục phát vé, có rảnh đâu nói chuyện lâu với nó cho được. Chừng bước vô trong quán, tới chỗ pgười ta phát cơm, nó đưa vé, lãnh một khay thức ăn, bỗng nghe có tiếng ai quen quen kêu:

        - Tí! Tí! Lại đây ngồi với ông nè!

Nó giựt mình. Ái cha! Ông Tư Kiên cũng đến đây ăn cơm chay nữa, nó trố mắt ngạc nhiên nhìn ông hỏi:

        - Ủa! Ông vô hồi nào vậy? Sao hồi nãy đứng sắp hàng tui hổng thấy ông? Ông cũng ăn cơm chay bình dân nữa à! Tui tưởng…

               - Tưởng cái gì mậy! Con Tám Ấn thấy tao già cả, nên cho vô ăn trước, mầy ở ngoài hổng thấy chớ có gì đâu là lạ. Ngày hôm qua nghe mầy nói nên tao ra ăn thử.

Thằng Tí lặp bặp:

        - Tui tưởng ông có tiền , bao giờ bước tới đây…

Ông Tư cười trừ rồi đưa tay vuốt đầu thằng Tí:

        -  Bộ giàu rồi hổng biết ăn cơm chay bình dân à!

 

alt

Đi lại phía bàn ông tư đang ngồi, để cái khay lên. Bây giờ mới nhìn thẳng vào khay thức ăn gồm có ba món, một xào, một kho, một canh, và khoảng chừng một tô cơm trắng nóng hổi , nó gục gặc đầu chép miệng:

       -  Chà! Đã quá! Lâu dữ mới ăn được bữa cơm ngon như vầy.

Nói rồi nó cấm cúi ăn ngon lành.

Nhìn thằng Tí vừa ăn vừa thò muỗng múc canh húp, ông Tư khẽ hỏi:

        - Mầy thấy sao! Có vừa miệng hông?

Thằng Tí gật đầu:

       -  Ngon quá sá cỡ! Ước gì bữa nào cũng được ăn như vầy.

Mâm cơm chay đạm bạc, đậu hủ kho, tô canh rau tập tàng chớ phải cao lương mỹ vị gì đâu, vậy mà cũng có người mơ ước…Ông Tư đưa tay vò đầu nó với cử chỉ thân mật:

        - Thì người ta mở cửa, mầy cứ tới ăn, chớ có ai cấm cản mầy đâu mà mơ với ước.Thôi mầy ở lại ăn nghen, ông đi trước có công chuyện một chút.

Nói rồi ông đứng dậy bước ra khỏi quán ăn… Trông ông có vẻ gì như vui lắm. Và từ đó, bữa trưa nào nó cũng tạc qua quán chay để ăn, khi bán được thì trả tiền cơm đôi ba ngàn, cũng còn rẻ chán, khi nào bán hổng được, thì bấm bụng ăn “chùa”. nhờ vậy cũng đỡ được phần nào bữa đói bữa no.

Quán cơm mở được mấy tháng, thằng Tí lấy làm lạ, không hiểu tại sao ông Tư là người có con Việt kiều, vườn đất cũng có, tiền bạc dư thừa, của ăn, của để lại ngày nào cũng ra chỗ dành cho người nghèo khổ nầy ăn. Biết trước như vậy nó đâu có nói cho ông biết làm chi.Thường ngày ổng chơi ngon lành trong xóm lắm mà, ai túng thiếu gì cần giúp là ổng giúp ngay, cho mượn chớ hổng bao giờ thấy ổng cho vay lấy lời, đâu phải người hà tiện đâu. Đối với ổng, sá gì bữa cơm như vầy mà cũng chen chân với người nghèo ăn cho được. một lần , hai lần ăn cho biết hổng nói làm chi, đằng nầy bữa nào hổng gặp ổng thì thôi, còn hể gặp là thấy ổng vô trước người ta hết, ngồi trên bàn uống nước xỉa răng, hình như ăn no nê rồi thì phải, và thấy nó, ổng đều kêu lại ngồi kế bên. Có bữa, nó cố tình né tránh, rồi theo dõi coi ông Tư kiên bước ra có trả tiền hông, nhưng mười lần như một, hổng bao giờ thấy ổng trả một ten.

     Bữa nay nó cố tình tới quán sớm hơn mọi khi, đạp xe lảng vảng trước cửa coi ông Tư tới chưa, thấy chị Tám Ấn đứng trước quày phát vé lui cui làm gì đó, nó bước vào. chị Tám ngạc nhiên hỏi:

              - Chưa tới giờ mở cửa sao mầy tới sớm vậy Tí?

   Không trả lời câu hỏi của chị Tám, nó quay đầu nhìn trước nhìn sau rồi hỏi ngược lại:

               -  Ông Tư Kiên tới chưa chị?

        -  Chưa! Bữa nay hổng biết ổng có bận hay bịnh gì hông mà chưa thấy ổng ra. Mà mầy hỏi ổng để làm gì? Muốn gặp thì ghé nhà ổng gặp, cần gì phải ra đây!

Thằng Tí nhăn mặt:

         - Hổng phải, tại vì tui lấy làm kỳ!

Chị Tám đang viết, ngưng tay, nhìn thẳng vô mắt thằng Tí, chau mày:

         -  Có gì đâu mà kỳ?

Ấp a ấp úng một hồi nó mới trả lời:

         - Thì…Thì ổng giàu thấy mồ mà ngày nào cũng ra đây giành ăn cơm chay với người nghèo khó.

Chị Tám như bị điện giựt, bật nhanh ra khỏi chỗ đứng, lấy tay bụm miệng nó lại, với cử chỉ như sợ bị ai nghe được, rồi nói nhỏ:

         - Ấy chết! Mầy đừng có nói bậy, Ông Tư nào giành ăn cơm chay.

Thằng Tí kéo tay chị ra khỏi miệng với vẻ giận dữ:

        - Chị sợ cái gì mà sợ kỳ vậy! Chính miệng ổng nói với tui là chị thấy ổng già, phát vé cho vô ăn trước. Tui tưởng ổng chỉ ăn cho biết thôi, ai ngờ bữa nào ổng cũng ra đây ăn, tui để ý thấy ổng ăn cơm không trả tiền. Bộ chị thấy ổng giàu rồi nịnh lấy lòng hả?

Nghe thằng Tí nói vậy, hình như bị chạm tự ái, chị Tám phát cáu:

        - Mầy hổng biết gì đừng có hỗn. Ông Tư là chủ quán nầy đó!

Nói rồi biết mình bị lỡ lời, chị Tám đưa tay lên bụm lấy miệng mình, quay qua quay lại nhìn dáo dác như sợ có ai đó nghe được, chị đưa ngón tay trỏ ấn mạnh lên tráng thằng Tí nói tiếp:

        - Cũng tại tao bị mầy chọc tức nên mới lỡ lời. Ông Tư hổng muốn ai biết ổng là chủ quán, nên biểu mọi người phải giữ kín. Nay mầy biết rồi thì cũng rán giữ mồm giữ miệng đừng để ổng biết ổng buồn, người ta có lòng tốt.

     Thằng Tí nghe chị Tám nói vậy lửng thửng bước ra khỏi quán quên cả tiếng chào từ biệt, Nó đã biết trước ông Tư không phải hạng người như vậy, mà sao nó lại nghĩ xấu cho ổng. Tiếng chị tám hình như còn vang đọng bên tay “ Ổng bữa nay bận hay bịnh gì đó nên giờ nầy chưa thấy ra”. Nhảy phóc lên xe, đạp nhanh tới nhà ông Tư, quẹo nhanh cái rẹt rồi dựng xe lên hàng mái đầm như mọi khi, nhưng không đến lu uống nước mà chạy thẳng vô nhà. Thấy nó ông Tư vui vẻ lên tiếng:

       - Ủa! sao bửa nay về sớm vậy mậy? Hổng ghé quán ăn cơm chay sao?

Nhưng Ông lấy làm lạ, bữa nay thằng nầy có hơi kỳ, hỏi nó mà nó làm thinh đứng nhìn ông chớ không vồn vã như mấy lần trước. Một hồi lâu nó mới lên tiếng, lễ phép xưng con, hổng phải tui như mọi khi:

        - Dạ! Con có ghé quán, nghe chị Tám nói hổng biết ông có bịnh gì hông mà hổng thấy ông ra, nên con về ghé thăm ông.

Nghe nó nói vậy, ông Tư cười ngất:

        - Tao mà bịnh hoạn gì, ở tuổi nầy mà bịnh là kể như đi đứt. Bữa nay bận coi chừng nhà cho bà Tư mầy đi công chuyện.

Thằng Tí đứng cúi đầu rưng rưng nước mắt nói nhỏ:

        - Con xin lỗi ông Tư… Và con cũng cám ơn ông Tư…

Thằng nhỏ nầy bữa nay gặp chuyện gì về đây có vẻ trịnh trọng, còn bày đặc xin lỗi, xin phải, rồi cám ơn ông nữa. Lòng thắc mắc chưa kịp hỏi, nó kể hết đầu đuôi câu chuyện và xin ông Tư đừng giận Chị Tám Ấn tội nghiệp. Nghe xong ông tư cười xòa, thằng nầy tuổi còn nhỏ mà biết chuyện ghê:

        - Lỡ rồi thì thôi, chớ giận hờn gì con.

Nói rồi ông Tư đưa tay lên xoa đầu nó, hình như đó là thối quen của ông mỗi khi trò chuyện với nó. Nó ngẩn đầu lên nhìn ông thì thầm:

       -  Còn chuyện nầy con không thể nào hiểu nổi. Ông Tư làm điều tốt, chớ đâu phải xấu xa gì. Sau lại phải giấu không cho ai biết?

Ông tư đưa tay vuốt chòm râu bạc trắng, mắt đâm chiêu nhìn vào khoảng trời xa xa nói:

         - Thế gian nầy mà, không khéo người ta lại nói tao có tiền, biết mình gần ngày xuống lỗ, bỏ ra bày trò làm phước để mua chỗ trên thiên đàng chớ tốt làng gì thì cũng ngặt. Miệng lưỡi người đời ở thời mạt pháp nầy biết đâu mà lường trước được. Hơn nữa, chuyện mình làm mình biết, cần gì phải cho người khác biết. Lớn lên, lăng lóc với đời có trí khôn rồi con sẽ hiểu, Bây giờ ông có nói nhiều con cũng chẳng hiểu được đâu.

Thằng Tí cảm động ôm chầm lấy ông thỏ thẻ:

        -   Con hiểu chớ ông! Sau nầy lớn lên… nhất định con sẽ bắt chước ông để sống.

   Ông Tư mỉm miệng cười thỏa mãn… Ngoài trời, buổi trưa bắt đầu gay gắt nắng./.

                                                                                               Mười Trí

Last Updated on Saturday, 11 October 2014 15:11
 

Xem những bài viết khác của Tác giả Mười Trí