Skip to content

NĐCLNH Úc Châu

Increase font size Decrease font size Default font size default color light color
Home Các Bài Viết Bút ký Chung một mái nhà
Chung một mái nhà PDF Print E-mail
Written by Mười Trí   
Friday, 30 January 2009 20:35

Có lần, tôi hân hạnh nghe một diễn giả ở xa, được mời đến đây trình bày về đời sống và con người vùng Nam kỳ lục tỉnh, để nói lên đều mình nghĩ là đúng, ông đưa ra những luận cứ hết sức sắc bén, chứng minh cụ thể, lời nói hùng hồn thao thao bất tiệt lôi cuốn người ghe, vòng vo tam quốc đã đời, sau cùng ông kết luận: “Do thiên nhiên ưu đãi nên con người sinh sống ở đây đôn hậu phóng khoáng , thật thà, hiếu khách, lè phè chớ không kim chỉ như người Miền Trung đất cày lên sỏi đá, và kiểu cách như người miền Bắc hay khách sáo hoa hòe trong lời nói. 
Nói vậy có nghĩa là bản tính con người do thiên nhiên vùng người đó sinh sống tạo ra chớ không phải bản chất ở người nào như vậy là nó như vậy! Chuyện nầy tôi chưa đủ trình độ đụng tới nên không dám lạm bàn. Nhưng trong xã giao hàng ngày tôi lại có rất nhiều bạn bè, Bắc có, Trung có, mà người nào cũng thật thà, cũng rất hào phóng chịu chơi…cũng rất bình dân học vị… có khác gì người Nam kỳ lục tỉnh của diễn giả trên đâu.Tháng trước trong Thúy Nga Paris tôi lại được coi vở hài kịch “Chung một mái nhà”, khi coi xong, tôi nhớ tới Bác Chín Vớt cùng quê tôi ở ngày nào... Nếu đem ra so sánh giữa bà mẹ chồng người Bắc trong vở kịch nầy với ông già chồng miền Nam là Bác Chín Vớt ở quê tôi thì bà nầy thua xa, thua xa lơ xa lắc…thua hàng ngàn cây số từ Bắc chí Nam…Xin được kể sơ qua bà con xa gần mình nghe thử…
Bác chín Vớt nhà vừa đủ ăn với vài công vườn và vài công ruộng, dân Nam kỳ lục tỉnh thứ thiệt. Sở dĩ tôi nói thứ thiệt là e sẽ có người nghĩ bác là Bắc Kỳ năm 54, vì Nam kỳ chẳng mấy ai kiểu cách như vậy. Nhà nông chánh hiệu, tuy không giàu có gì hơn ai nhưng sinh hoạt nhà bác không giống ai trong vùng quê hẻo lánh, quê mùa, mộc mạc nầy hết. Nề nếp lạ kỳ, Phải nói “lạ kỳ” vì nó rất dị hợm đối với người dân tay lấm chân bùn ở đây. Ăn cơm cả nhà cùng ăn, không ai ăn trước, không ai ăn sau, sáng, chiều, đúng giờ đúng giấc, đôi khi đang làm cỏ ruộng dở dang, tới bữa cơm là bác bỏ về ngay chớ không bao giờ ở nán lại làm cho xong rồi về như người ta cho dù là còn rất ít. Trong nhà ai về trễ bữa kể như đói không có chuyện chừa lại lác nữa về ăn sau, và một điều bà con ở đây cho là lạ kỳ hơn nữa, không bao giờ bác ngồi ăn chung với vợ con. Nhà vợ con ăn cái gì bác ăn cái nấy nhưng dọn riêng lên mâm đồng đem lên nhà trên cho bác ngồi ăn một mình. Ăn xong phải có bình trà nóng. Đó là chỉ nói về cái ăn của nhà bác, còn con cái đi phải thưa, về phải trình, không phải đứa nào muốn đi đâu thì đi, về chừng nào thì về. Tuy không phải nhà cao cửa rộng gì hơn ai nhưng lúc nào cũng ngăn nắp gọn gàng, sân trước trồng cây kiểng được chăm sóc kỹ lưỡng đẹp như một hoa viên. Chòm xóm có tiệc tùng giỗ quải hay cưới gả mời bác giờ nào bác đến đúng giờ đó, đến nơi chưa xong bác cáo từ về ngay đố ai giữ lại được. Nhiều người ngứa mắt ngứa miệng bực mình nói nhỏ sau lưng nhưng rất ngán bác: “Cái thằng cha chín Vớt dân làm ruộng chết mẹ chớ giàu có gì đó mà làm như ta đây ông Cả, ông làng không bằng, bày đặt thói phong lưu trưởng giả, ở nhà ăn cơm mà cũng phải ăn trên, ngồi trước”…
Đời mà! Biết sao cho vừa lòng người, ở rộng người cười ở hẹp người chê, hơi sức đâu để ý cho mệt tấm thân già, nên ai có miệng muốn nói gì nói bác coi như không, bỏ ngoài tai. Chín Vớt như vậy là như vậy, lúc nào cũng như vậy đó. Có người khen gia đình nề nếp bác Chín cười, có kẻ chê mới đủ ăn đã làm ra bộ ta đây nghe được bác Chín cũng cười. Cái nề nếp khác người của gia đình bác Chín khiến đứa con trai lớn kiếm vợ trần thân, trong vùng cô nào cũng ngán không dám vô làm dâu. Hỏi chỗ nầy hổng được hỏi chỗ khác riết rồi cũng phải được ế ẩm gì. Có mợ thì chợ cũng xong, không mợ thì chợ cũng hổng không bữa nào. Đùng một cái, người ta thấy nhà bác Chín bấy lâu nay có bao giờ nuôi gà nuôi vịt hay heo, tự dưng sao khi không lại mang về cả đàng gà vịt với hai con heo về nuôi. Chuyện nầy lạ lắm thấy tận mắt mới dám tin, hỏi ra mới biết thì ra là vậy chớ có lẽ nào. Tin Chín Vớt sửa soạn cưới vợ cho con, tiếng nhỏ tiếng to mỉa mai chúc mừng. “Chà! Chuột sa hũ nếp!! Đứa nào trúng mánh bước vô làm dâu nhà nề nếp nầy thiệt tốt phước…” Rồi ngày hỏi ngày cưới được tổ chức rình rang, đúng lễ, đúng nghĩa, dù bên nhà gái không đòi hỏi gì hết. Chín Vớt mà phải biết! Đâu vào đó đàng hoàng tử tế, không có chuyện làm lấy có cho xong. Cô con dâu bác Chín người làng kế bên, mặt mũi sáng sủa dễ coi, không đến nỗi tệ, thật thà lắm, thật thà có thể nói còn hơn cô con dâu bà Bắc trong chung một mái nhà nhiều. .. Bác Chín rất hài lòng… Ngày về làm dâu, tới bữa ăn, mấy đứa nhỏ em chồng giành chỗ ngồi sao đó hổng biết mà bà chị dâu thật thà hay “thật khùng” nầy nổi nóng nạt to:
- Ăn uống chỗ nào ngồi ăn hổng được, tụi bây làm gì chộn rộn như Chệt chìm tàu vậy? Ngồi ngay ngắn lại ăn tao coi có được hông!
Đúng là thật thà thứ thiệt, nghĩ sao nói vậy chẳng hoa lá cành gì hết. Hổng biết có phải bác Chín nghĩ rằng đứa con dâu thiên là trời, địa là đất nầy muốn xỏ xiên mình, mượn dao chém thớt làm bộ chưởi chó mắng mèo xán vô mặt bác một gậy nhoáng lửa thiếu điều đổ đom đóm con mắt qua câu nói “ăn chỗ nào ngồi ăn hổng được” làm bác nhột đít, hay là trời đánh còn tránh bữa ăn mà nó lại lớn tiếng rầy la, chẳng nể nang kể số gì đến bác đang ngồi ăn trên nhà trên nên bác nực gà lên tiếng. Ngọt ngào như mật ong, nhỏ nhẹ mời trây đâm cổ họng đứa con dâu cưng:
- Ở dưới chộn rộn lắm hả con? Vậy thì bây lấy chén đũa lên đây ngồi ăn với tao nè cho nó hổng chộn rộn làm bây ăn mất ngon!
Nghe ông già chồng nói vậy, cô con dâu thật thà dạ một tiếng rồi ngoe ngoải xách chén đũa lên liền trước cái nhìn ngỡ ngàng của mấy đứa em chồng và bác Chín gái!!! “Trời đất quỉ thần ơi! Thiệt tình cho cái con nhỏ nầy, bộ mầy gan trời sao không sợ sét đánh, tao là vợ ổng mấy chục năm nay chưa dám ngồi chung bàn, chung mâm… mầy phận dâu con mới về lại dám, tính giỡn chơi với ổng hay sao đây mà”. Bác gái lẩm bẩm lo thầm.
Nói lẫy, mời trây, không dè cô con dâu lại làm thiệt, tỉnh bơ như ruồi làm bác cứng đơ mình mẩy, hổng biết phải làm sao đành buông đũa qua bàn bên kia uống nước liền. Đã vậy cô còn hỏi vói theo: “Bộ bữa nay ba bịnh hay sao mà ăn cơm ít quá vậy ba?”
Bác Chín làm thinh bỏ ra sau hè. Cô con dâu cũng làm thinh, thoải mái ngồi mình ên ăn một bữa hả hê trên nhà trên. Không vừa bụng muốn rầy la cứ rầy la ai cấm, bày đặt nói hưu nói vượn làm chi rồi giận, rồi hờn. Vài tháng sau người ta thấy bác Chín cất nhà trên vuông đất trống ngoài ruộng, hỏi ra mới biết bác cất để cho vợ chồng người con trai trưởng ra riêng…Vậy ai dám nói dân Nam kỳ lục tỉnh Nghĩ sao nói vậy không biết nói trây!! Nói bóng nói gió. Lầm chết. Nói trây để rồi bị hố nặng còn hơn bà mẹ chồng Bắc Kỳ trong chung một mái nhà…Cô con dâu bị tai nạn vì lời nói thật lòng... Ăn ngay, nói thẳng như ruột ngựa của mình.


Nói đến tai nạn lời nói, tôi lại nhớ hồi còn trong trại tị nạn bên Mã Lai, Ông bạn ở cạnh phòng sáng dậy kêu đứa con gái đâu chừng chín mười tuổi gì đó lại sai:
- Con lấy tiền chạy xuống tiệm Chệt Kim mua Ba ổ bánh mì.
Con bé dạ lớn một tiếng lấy tiền chạy đi, lát sau hí hửng mang bánh mì về, chẳng những hổng được khen còn bị ăn đòn. Ông già trợn mắt hỏi lớn:
- Mầy mua để tế sống tao hay mần chi mà nhiều quá vậy?
Con bé ngơ ngác, bập bẹ trả lời:
- Thì hồi nãy Ba biểu con mua ba ổ…
Ông già nổi trận lôi đình, tiện tay tát cho nó một cái, nói như hét:
- Tao biểu mầy mua cho tao ổ bánh mì, chớ tao biểu mầy mua ba ổ hồi nào? Lớn đầu chớ nhỏ nhiết gì đó còn Tâm hơ tâm hất…
Tâm hơ tâm hất hay nói năng không rõ ràng?Tội nghiệp con nhỏ khi khổng khi không bị tai nạn lảng xẹt vì lời nói. Phải chi ổng người Bắc, nói mua Bố ổ bánh mì làm sao con bé nó nhầm. Cười Bắc kỳ ăn nói hoa hòe còn hơn Nam kỳ nói năng dễ bị hiểu lầm.
Qua bên nầy, con cái mỗi ngày một lớn khó ai kiểm soát được hết, ngoài việc sợ chúng hư tôi còn có nỗi lo khác, chuyện gái trai bên ngoài. Ở đây tây nhiều ta ít, lỡ nó đem về một con Đầm …Tôi không kỳ thị. Mình có hơn gì người ta đâu mà kỳ thị, nhưng nuôi heo phải chọn nái, cưới gái phải chọn dòng. An Nam mình thuộc về giống cóc nhỏ xíu, còn Tây thuộc về Giống “Giọt sia” bự chảng, không xứng đôi. Cưới rồi dẫn về trình diện bà con sợ bị sợ chế diễu. “Ví dầu chồng bé vợ to. Như đôi đũa lệch, biết so sao vừa”. Vợ chồng tôi hổng muốn chuyện nầy xảy ra. Hơn nữa, Tây hễ thích thì nó ở, chán rồi là nó “sê bái bay” chớ không nặng tình nặng nghĩa như người mình. Bà xã tôi còn có ý định đợi tụi nhỏ học hành xong, dẫn về Việt Nam cưới một cô miệt vườn, có một thằng con trai nên bả lo, thấy lớn sộn rồi mà không bồ bịt gì hết lù khu như vịt đực sợ kiếm không được vợ ta. Nhưng ý mình không bằng ý trời, Trăm sự tại nhơn, thành sự tại thiên, nỗi lo hơi xa của tôi được giải tỏa. Một hôm, lần đầu tiên thằng nhỏ dẫn về nhà trình diện cô bạn gái. Vợ chồng tôi mừng thầm, ta chớ hổng phải tây. Con bé nhìn thoáng qua mặt mày sáng sủa dễ thương, thằng nầy coi lù khù vậy mà khéo chọn. Đến lúc con bé mở miệng chào cả nhà bật ngửa. Cô Bắc Kỳ nho nhỏ!! Của Nguyễn Tất Nhiên. Tôi Bắc Nam gì cũng được, miễn đừng phải tây, nhưng bà xã ngược lại không hài lòng mấy. Chờ khi con bé ra về bả mới thì thầm:
- Hết người hay sao lại làm quen với con gái Bắc. Nghe đâu Bắc Kỳ lanh lắm, sợ sau nầy nó ăn hiếp…Tui thầm lo từ lâu rồi mà tránh cũng không khỏi.

Ghét của nào trời trao của nấy, y chang như đúc. Tôi ngắt ngang:
- Ăn hiếp cái gì! Ta còn hơn tây…nó dẫn con Đầm về là tui với bà kể như ngọng, mặc sức quơ tay múa chân ra dấu mệt nghỉ hổng biết có hiểu hông nữa. Được voi đòi tiên.
Bà xã tôi càu nhàu:
- Ông mà biết cái gì! Vừa mới hả miệng đã bị ông hớt ngang trong họng, vô duyên chết tật. Tui nghe người ta nói Bắc Kỳ khó chịu, cưới hỏi khó khăn lắm đó…đòi hỏi lễ nghĩa nầy nọ đủ thứ chớ hổng phải ù ơ ví dầu như “người mình” sao cũng được đâu. Còn mới ông liệu bề tính trước đi, chớ để nước tới trôn mới nhảy tui sợ hổng kịp. 
Bắc kỳ không phải “người mình” vậy là người gì? Lần nào đó tôi cũng được nghe có người ở quê tôi nói. “Trên Huyện mới về một ông Bắc kỳ chớ hổng phải Việt Nam!” Tôi hiểu ý, nhưng không thể nào hiểu nổi bà con nghĩ sao lại thốt nên lời như vậy. Bây giờ lại nghe người ta nói, Chưa làm sui với Bắc Kỳ lần nào hết mà đã biết khó với dễ, Nam Kỳ của bà sao ngớ ngẩn quá, tôi cười thành tiếng:
- Trời ơi! Chuyện trước mắt là lo để dành tiền cưới vợ cho con đây nè hổng lo, hơi sức đâu bà lo mấy chuyện trời thần đất đổ đó, mà dẫu cho người ta có khó khăn cách mấy đi nữa, bên xứ nầy tụi nó phải lòng nhau rồi bà cản lại được hông? Hay là vẫn phải cưới? Đem về trình diện tui với bà là nó nể mặt lắm rồi ở đó còn khen với chê, tính trước, tính sau cái móc xì. Hơn nữa trai gái mới quen chưa chắc gì thành …
Và rồi từ ngày đó con bé thỉnh thoảng tới chơi, “trọ trẹ” giọng Bắc dần dà quen tai, từ chỗ là lạ, bây giờ thấy cũng hay hay. Dí dỏm, khéo ăn khéo nói thêm khéo “nịnh đầm,” bà xã tôi lại tánh hảo ngọt nên coi mòi bắt đầu vừa ý lắm. Có con bé tới là cả nhà rộn rịp lên hẳn. Tuần nào vắng bóng bà xã tôi ngóng trông nhắc chừng. Độ rày bả ghiền con nhỏ còn hơn thằng con trai tôi nữa. Có lần, không biết tụi nhỏ chọc ghẹo qua lại gì đó mà con bé kiếm tôi nũng nịu mét:
- Bác ơi! Bác ơi, con không muốn ai gọi con là Bắc Kỳ! Con năm tư cơ.
Hồi năm năm tư, mầy còn trong đầu gối bố mầy chớ có mặt trên cõi đời nầy sao mà con năm tư với năm lăm. Mà Bắc Kỳ năm tư với Bắc Kỳ bây giờ có gì khác? Tôi cười hỏi lại:
- Tại sao vậy con?
- Tại vì Bắc Kỳ dữ lắm, còn ác nữa. Con 54 hổng phải Bắc Kỳ.
À! Té ra con nhỏ muốn phân biệt năm tư với bảy lăm, Anh sui tương lai của tôi huấn luyện thế nào hổng biết mà con Bắc Kỳ con nầy có thành kiến với Bắc kỳ nặng ký dữ. Nhịn bụng không được tôi vừa cười vừa giải thích:
- Ai gọi con Bắc Kỳ con phải hãnh diện vì chỉ năm 54 mới còn Bắc kỳ. Người Pháp chia nước ta ra làm ba kỳ để trị, Bắc Kỳ, Trung kỳ, và Nam Kỳ. Người Pháp đi không còn Bắc kỳ hay Nam kỳ gì nữa hết. Chỉ có người miền Bắc, người miền Nam hay Trung thôi.
Con bé gục gặc đầu tỏ ra hiểu, nhưng trên khuôn mặt dễ thương đượm chút ngây thơ hình như vẫn không muốn ai gọi mình là Bắc Kỳ. Và rồi qua trung gian hai đứa nhỏ gia đình tôi lần mò tới làm thân với gia đình bên kia. Trồng cây chờ ngày đôm bông kết trái, sanh con mong sớm dựng vợ gả chồng để có cháu nội, cháu ngoại hủ hỉ ẵm bồng cho vui nhà vui cửa, nhưng chờ hoài hổng thấy tụi nhỏ đá động gì tới hôn nhân hết. Sốt ruột, một hôm tôi kêu thằng con lại nói:
- Nếu bây thấy hạp nhau thì biểu con nhỏ về thưa lại với Bố Mẹ nó đi, đặng người lớn đi tới định bề cưới hỏi. “Cưới vợ phải cưới liền tay, chớ để lâu ngày thiên hạ dèm pha” hổng tốt. Vả lại mầy cũng đã có công ăn việc làm, đủ lông đủ cánh rồi cưới vợ cũng vừa, còn chần chờ gì nữa.
Ít lâu sau vợ chồng tôi khăn gói quả mướp, trà bánh chỉnh tề đến bên nhà gái bàn chuyện cưới hỏi. Tôi miệng lưỡi không bằng ai nên nhờ vợ chồng ông bạn thân đi theo hộ vệ, lần đầu tiên được làm sui nên hơi khớp, lỡ gặp khó khăn bí lối có người ứng chiến tiếp lời dùm. Hổng ngờ anh sui tương lai Bắc kỳ của tôi hề hà:
- Đơn giản được chừng nào tốt chừng nấy đi anh chị, bên nầy mà, trầu cau hỏi hiết gì tôi chế hết, miễn sao tụi nhỏ yêu thương ăn đời ở kiếp là mình mừng. Chớ rườm rà bày vẽ mà chi tội nghiệp tụi nhỏ. Hôm nay mình gặp nhau bàn như vầy là đủ. Còn chuyện trăm năm của tụi nhỏ để tụi nhỏ nó tính sao mình làm vậy.
Câu nói nầy mấy chục năm về trước tôi đã từng nghe má tôi nói tương tự khi có người đến dạm hỏi mấy chị tôi. Bây giờ được nghe lại thấy sao mà nó hay vô cùng và cũng dễ thương làm sao, chứa đựng một cái gì đó hết sức rộng rãi, yêu thương. Sau bữa cơm gia đình đạm bạc đầy ắp tình nghĩa sui gia lúc ban đầu, chúng tôi từ giã ra về, hẹn gặp lại sau. Trên đường về, ngồi trong xe tôi quay qua bà xã khều nhẹ :
- Bắc kỳ cưới hỏi khó khăn, đòi hỏi nầy nọ đủ thứ chớ hổng phải dễ dãi, sao cũng được như “người mình” bà hén?
- Thôi ông đi! Trăm người được một đó.
Trăm người được một? Nói chuyện y như cò ỉa trúng miệng ve, mình may mắn dữ vậy sao! Tôi không nghĩ vậy. Ai cũng biết nói câu bàn tay ngón vắn ngón dài nhưng vẫn quơ đũa cả nắm, cho dù Nam hay Bắc, ở đâu cũng có kẻ vầy người khác, không hẳn Bắc kỳ là như vầy…Nam kỳ là như vầy…Ông sui tương lai Bắc kỳ của tôi và bác Chín Vớt Người Nam kỳ lục tỉnh ở dưới quê, đem so giữa hai người bắc Nam ai phóng khoáng, ai màu mè hoa lá cành hơn ai…Tôi quay ra bà xã nói tiếp:
- Trai nhờ đức mẹ, gái nhờ đức cha, kiếp trước bà khéo tu nên bây giờ thằng con trai mình hôm nay mới suôn sẻ, gặp được chỗ như vầy…
Bà xã tôi lườm:
- Thôi mà ông! Mình chung một mái nhà mà! Móc họng móc hầu tui mần chi! Lỡ nhột cổ ói ra tùm lum, thúi ùm ông là người lãnh đủ ngửi không chớ có ai vô đó…

Mười Trí








Last Updated on Tuesday, 12 April 2011 11:30
 

Xem những bài viết khác của Tác giả Mười Trí