Skip to content

NĐCLNH Úc Châu

Increase font size Decrease font size Default font size default color light color
Home Các Bài Viết Truyện Ngắn Một thời để nhớ
Một thời để nhớ PDF Print E-mail
Written by Mười Trí   
Monday, 29 December 2008 12:20
alt

Như bao chàng trai trẻ sống trong thời ly loạn, tôi bước vào quân đội khi tuổi đời vừa mới đôi mươi, đầy ấp hoa mộng. Áo trắng thư sinh được gác sang một bên, thay vào bộ áo nhà binh với đôi giày đinh nặng trĩu."Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu", cầu mong là vậy.  Hoàn cảnh sống mới, bạn bè cũng mới, cuộc đời chuyển sang ngã rẽ hoàn toàn đổi mới. Hồi còn đi học, xin má tôi cái gì bà hổng bằng lòng là dọa đòi bỏ học đi lính, rồi nghe người ta ca "Anh là lính kiêu hùng" thấy mà bắt ham, hăng máu lắm, bây giờ bước vào đời lính rồi mới mở con mắt, biết đâu là trời, đâu là đất. Lính kiêu hùng đâu không thấy, chỉ thấy cực dàng trời dàng đất, hết mộng, hết mơ "Lính lính đa tình"... Từ cái ngày má tôi mua nhà bên Mỹ Tho cho mấy anh chị em tôi có chỗ tạm trú để đi học, khỏi phải ngày ngày qua lại con phà Rạch Miễu, xa mái ấm gia đình từ nhỏ, tôi đã quen sống cảnh bụi đời nên dễ dàng thích ứng với cuộc sống nhà binh. Còn đang thụ huấn chớ chưa ra chiến trường thử sức với bom đạn, mà có nhiều đứa nản lòng, đêm đêm nằm than dài thở vắn, trách trời, trách đất, trách mình bạc phước sinh nhầm thời buổi chiến tranh… Ngày ra trường tôi chọn đơn vị tiểu khu Kiến Hòa, tôi nghĩ quê mình mình về, lỡ vắn số chết gần nhà khỏi bị thúi thây.
"Nào ai biết ra sao ngày sau?" Thời gian lặng lẽ đi qua với những tháng ngày khổ cực gian nguy của đời lính, tôi già dặn và trưởng thành hơn nhiều. Thoáng đó đã hai năm trời vào sinh ra tử, lăn lóc trên khắp chiến trường trong tỉnh. Kỳ nghỉ phép thường niên nầy, trước khi về lại ngôi nhà gói ghém đầy kỷ niệm thời còn đi học trên khu gia cư Vòng Nhỏ bên Mỹ Tho, tôi ghé qua thăm người chị tại thị xã Bến Tre. Từ ngày ông xã chị biệt phái về dạy lại, hai ông bà được đổi về nguyên quán, ông dạy trung học ngay trong thị xã, còn bà dạy tiểu học ở quận Mõ Cày. Chị tôi mua nhà cạnh sân banh, gần ngã ba tháp để ở. Lâu lắm tôi mới có dịp ghé đây thăm. Chị em lâu ngày hổng gặp, thấy tôi về chị mừng quá đỗi, hỏi thôi đủ chuyện. Nhìn vóc dáng phong trần rạm nắng của tôi chị nói:
- Em có hơi đen nhưng trông cũng bảnh trai ghê chớ bộ, có cô nào chưa ? Dẫn tới đây giới thiệu cho chị biết với.
Tôi cười trả lời:
- Lính tráng tương lai phía trước là cái quan tài, còn đàng sau thì mù tịt, ai thèm ngó tới chị ơi! 
Chị tôi cười rồi nói:
- Sao mà bi quan quá vậy, Giá nói như em ai đi lính cũng bị ế hết sao, có nầy phải có nọ chớ. Hổng mấy khi em tới, bữa nay ở lại ăn cơm nghen, ảnh đi dạy chút nữa về tới bây giờ. Em nghỉ phép được bao lâu? Có định đi đâu nữa hông? Hay là ở đây chơi với anh chị luôn đi, rồi chị nhắn má qua gặp em, má nhớ em lắm đó, lần nào chị về thăm má, má cũng hỏi em, chớ lính tráng làm sao em về vườn thăm má cho được.
Nhắc tới má, tôi lại cảm thấy bồi hồi. Từ khi ba tôi qua đời, người mẹ quê thương yêu nầy đã bao năm qua đội bom đạn cố bám chặt lấy mảnh vườn, thu huê lợi để có tiền nuôi anh chị em tôi đi học. Nhà vườn nhờ vườn tược, cây trái nuôi sống, lên tỉnh thành trắng tay, biết phải làm gì có tiền nuôi con? Người người di tản, má tôi một mình âm thầm ở lại chỉ vì không muốn con mình cực khổ, cần có tiền lo cho chúng ăn học, để có tương lai tốt đẹp sau nầy bất kể hiểm nguy. Cái cò lặn lội nuôi con…
Tôi lãng đãng trả lời:
- Thôi được rồi chị, gặp mặt em lần nào má cũng khóc, chỉ làm cho bà thêm bận tâm chớ có lợi ích gì. Ghé thăm chị rồi em về Mỹ Tho tìm mấy thằng bạn học cũ coi bây giờ tụi nó đi về đâu, sống còn ra sao.
Im lặng một hồi, hổng biết nghĩ sao chị tôi lại đề nghị:
- Trường chị mới về một cô giáo học bổ túc mới ra trường, dân Mỹ Tho và cũng là cựu học sinh Lê ngọc Hân. Tánh tình vui vẻ, ăn nói hoạt bát dễ thương lắm. Cô ấy tên Cúc. Hay là thứ bảy nầy chị rủ cô ta và vài người bạn tới nhà đổ bánh xèo ăn. Em tới chị giới thiệu cho, xứng với em lắm đó. Biết đâu chừng là duyên…có bạn gái thư từ qua lại thăm hỏi cũng đỡ buồn, đỡ cảm thấy cô đơn.
Nghe nhắc tới tên Cúc dân Lê ngọc Hân là tôi "dị ứng" liền, Chẳng qua là hồi còn đi học, tôi bị một cô nữ sinh “làm thịt” ở cổng trường trước mặt không biết bao nhiêu học trò, trai có, gái có. 
Bữa đó tôi học buổi chiều, thường thường bọn tôi hay đến sớm, tụ năm tụ bảy trò chuyên với nhau chờ tới giờ vô lớp. Tôi đang đứng ba hoa cùng đám bạn, bỗng đâu một nữ sinh sấn tới nện cho mấy cái cặp lên đầu như trời giáng, miệng chửi túa sua đồ mất dạy…Thứ đồ mất dạy. Quá bất ngờ nên tôi lãnh đủ, đứng chết trân ngó cô ta, tay giơ ra đỡ đòn miệng hỏi:
- Cô nầy làm gì kỳ cục vậy? tôi có làm gì cô đâu sao khi không cô lại đánh tôi?
Cô ả mặt mài đỏ gay, trừng trừng nhìn tôi như muốn ăn tươi nuốt sống:
- Khi không hả! không làm gì hả! Ăn nói mất dạy như vậy mà hô không làm gì hả? Đồ chó chết…
Nói rồi cô lại sấn tới giơ cặp lên định mần thịt tôi thêm lần nữa chớ. Cũng may, nhờ mấy cô bạn đi chung kéo ra, không thôi chắc tôi phải mập đòn. Nhìn khuôn mặt phừng phừng lửa giận như Phàn Nữ lúc lâm trận nầy, tôi đoán chắc cô bị ai chọc ghẹo gì dữ lắm đây nên mới giận như vậy. Nữ sinh gì mà dữ tợ chằn tinh, lần đầu tiên tôi mới thấy. Khi khổng khi không bị ăn đòn lảng nhách, còn bị chủi nữa, quê một cục. Tôi tức muốn cành hông, nhưng hổng biết phải làm sao giãi bày. Hôm nay là ngày gì, có phải tam nương hông đây mà sao xui tận mạng. Đám bạn đứng chung quanh cười ngả nghiêng ngả ngửa, một thằng học cùng lớp, vừa ôm bụng cười, vừa nói:
- Tao thấy con Thu Cúc đi ngang qua, tao kêu Thu Cúc thúc c…,nó hổng đánh tao mà lại quay ra đánh mầy. Đúng là trời khiến.
Hèn chi là vậy, có lửa mới có khói chớ. Chọc gái mà chọc cái kiểu nầy ăn đòn cũng vừa, nhưng ai đâu ăn bánh, bắt tôi phải trả tiền, oan cho tôi quá. Bây giờ đột ngột nghe chị tôi nói tới cô Cúc học Lê Ngọc Hân, làm sao tránh khỏi sửng sốt, nghĩ thầm trong bụng có lẽ nào? Dân Lê ngọc Hân thiếu gì người tên Cúc, chẳng lẽ đây lại là trời khiến như ngày nào trời khiến cô nữ sinh "quỉ khốc thần sầu"Thu Cúc đánh tôi? Chuyện đời đôi khi có những chuyện ngẫu nhiên trùng hợp lạ đời, ai biết trước được? Cũng có thể lắm chứ chẳng phải không. Như một phản ứng tự nhiên, nhanh nhẩu, tôi hỏi lại chị:
- Có phải Thu Cúc không chị?
Tỏ vẻ ngạc nhiên, chị nhìn thẳng vào mặt tôi nói:
- Ủa! Bộ quen trước hả? vậy thì hay quá. Đúng rồi, Thu Cúc, Nguyễn thị Thu Cúc, hoa cúc của mùa thu, tuyệt vời. Đẹp tên, đẹp nết đẹp luôn cả người...Chị thích cô ta lắm,người rất trực tánh.
Tôi cười thầm trong bụng, Chị mà biết nói lái, chắc chắn sẽ bụm miệng cười dòn.Tôi vội đính chánh:
- Em nào quen biết, Nghe chị nói cô ấy tên Cúc đoán mò vậy thôi. Cái chị nầy thiệt đúng là miệng lưỡi, nói hay quá, làm ai nghe qua cũng muốn biết người đẹp cỡ nào. Thứ bảy nầy làm gì làm nhất định em sẽ trở lại.
Một lần nữa, chị nhìn thẳng vào mặt tôi nói:
- Chắc chắn nghen, đặng chị mời.
Tôi cười nói nửa đùa, nửa thật: - Có điều kiện được diện kiến cùng người đẹp, không chắc, còn cái gì chắc nữa đây chị.
Hai chị em cùng cười. Sau bữa cơm gia đình thân mật, tôi bay về Mỹ Tho với nỗi lòng mong đợi ngày thứ bảy, "thử xem con tạo an bài ra sao" tôi cũng muốn biết cô Thu Cúc dạy chung trường chị tôi có phải thiệt là Thu Cúc của thuở học trò đầy kỷ niệm không. Chuyện xa xưa hình như đã đi vào quên lãng, bây giờ đột nhiên bừng bừng sống dậy trong tôi...
Mỹ Tho vẫn thơ mộng như ngày nào, chẳng mấy gì gọi là thay đổi, đường hai ông bà Nguyễn Trung Long, đường Ngô Quyền, Hùng Vương, Lê Lợi, vẫn hàng me già rợp bóng, vẫn lũ học trò thơ ngây vô tư cắp sách đến trường..."Cảnh đó, người đây luống ngậm ngùi". Xóm tôi ở trên khu gia cư Vòng nhỏ vẫn còn những người quen cư ngụ như bác Hai cảnh Sát, bác Sáu Hiến Binh, bác Năm Y Tá, Dì Ba nấu cơm tháng cho học sinh ở trọ. Ở đây đa số là dân tứ xứ vùng quê di tản tránh bom đạn, không bà con thân thích nên chẳng ai biết tên họ ai, thấy làm nghề gì thì kêu tên là vậy, riêng Bác Năm Y Tá họ Trương. Có một điều tôi biết chắc chắn bác phải lót chữ thục, bởi vì ba người con bác đều lót chữ thục hết. Anh Trương Thục Hán học trước tôi hai ba cấp gì đó, tôi không nhớ rõ lắm, dáng người cao ráo, khôi ngô. Tên của ảnh nghe có vẻ hơi Tàu. Hai cô em gái, Trương Thục Trinh, Trương Thục Nữ đẹp tuyệt vời, thuở ấy đã làm sai nhịp đập trái tim hổng biết bao nhiêu anh chàng mới lớn, trong đó có tôi. Hai cô thật đúng với câu “Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu”. Trương thục Hán, Trương thục Trinh, Trương thục Nữ, Bác Năm khéo đặt tên con ghê, tuy có vẻ hơi Tàu nhưng nghe qua cảm thấy cũng hay hay. Vậy mà có người lại thắc mắc hỏi bác Năm:
- Bộ bác làm Y Tá chích đít thiên hạ chưa đã sao lại còn muốn chơi cha, đặt tên con Thục Hán, Trinh, Nữ?..
Nghe người hỏi vậy, bác Năm mới té ngửa, xua tay cười khì nói:
- Vô tình thôi, bây giờ nghe mấy ông nói tôi mới để ý, thật ra hồi nào tới giờ tôi đâu biết. Đọc chuyện Tàu thấy tên hay hay nên bắt chước đặt cho con chớ đâu có ý gì khác.
Vô tình của bác Năm gác kèo trên người ta quá. Lần nầy về tôi mới hay anh Trương thục Hán đã tử trận trong một trận đánh lớn ở mặt trận miền trung. Hai cô Thục Trinh, Thục Nữ có gia đình theo chồng ở tận phương xa, nhà bác vắng tanh, hai vợ chồng già có con như không, thui thủi một mình, bác Năm trai vẫn còn làm nghề "chích đít". Thấy tôi về bác mừng vô kể, có lẽ nhìn qua tôi là bóng hình của anh Thục Hán...
Về được mấy ngày, đi tìm đỏ con mắt chẳng gặp đứa nào quen, đến nhà hai thằng bạn thân, Long tiệm chụp hình Thiện Ký, và Hiệp du ca mới hay tụi nó đã được Tổ Quốc Ghi Công, đệ ngũ đẵng bảo Quốc Huân Chương kèm anh dũng bội tinh với nhành dương liễu hơn nửa năm nay rồi, như vậy cũng xong một kiếp người, hết bon chen vui buồn sầu khổ gì nữa hết, tuổi đời chưa được bao nhiêu mà dám giành chỗ với ông bà, phủi chân lên bàn thờ an nhàn nằm hưởng đồ cúng. Bạn bè kẻ mất nằm đó, người còn tản mát bốn phương trời như đàng chim vỡ tổ... Tự dưng lòng bâng khuâng nghĩ tới mình, biết ra sao ngày sau? Bom đạn vô tình có thiên vị một ai. Đã sống đời gió sương thì mặc cho sương gió bao trùm, cho số mệnh đẩy đưa, đưa đẩy, trời kêu ai nấy dạ... Nhưng thà như tụi nó vậy còn hơn, gia đình bè bạn chỉ khóc thương một lần, chớ còn "anh trở về trên đôi nạn gỗ, anh trở về người mất một tay" có sống cũng bằng thừa, khổ mình, lại thêm gánh nặng cho đời có lợi ích gì.
Chuyến về phép lần nầy buồn vô số kể, không có bạn bè nên tôi cũng chẳng muốn đi đâu, lẩn quẩn trong nhà chơi với mấy đứa cháu con anh tôi cho qua ngày. Rồi thứ bảy đến, như đã hẹn, tôi nôn nóng trở lại Bến Tre, không hiểu sao lòng lại đâm lo nghĩ chuyện đâu đâu, lỡ như cô Cúc đúng thật là Thu Cúc của ngày nào thì sao? Mình có nên nhắc lại chuyện xưa?...Có gì hay ho mà phải nhắc, mình phải làm sao? Thây kệ, tới đâu hay tới đó, hơn nữa chưa chắc gì... Nghĩ vớ vẩn mà tới ngõ nhà chị tôi hồi nào hổng hay, mùi chiên xào bay ra thơm ngào ngạt tận ngoài đường, anh rể tôi đang lom khom dọn dẹp gì đó trong nhà, nghe tiếng xe gắn máy nổ ngoái đầu ngó ra, nói lớn:
- Cậu Út nó tới rồi kìa bà.
Chị tôi lăng xăng chạy ra cửa, nét mặt hớn hở thấy rõ, dẫn tôi vô tận nhà sau giới thiệu từng người:
- Đây là cô Hai dạy cùng trường, và đây là cô Cúc mới về dạy chung với chị.
Quay về phía tôi chị nói tiếp:
- Và đây là em trai út của tôi, tên Trí . Xin giới thiệu mọi người, trước lạ, sau quen...
Chị tôi nói bô bô một hơi rồi vô bếp phụ cô Hai đang đổ bánh, cô Cúc ngồi lặt rau, mọi người nhìn tôi gật đâu chào. Là con trai, lại là lính nữa, mạnh dạn mới phải chớ, nhưng không hiểu sao lúc nầy tôi lại hơi "khớp"mới kỳ, hai tay xoa vào nhau gật đầu chào lại mọi người, cố lấy bình tĩnh cho được tự nhiên, nhưng làm sao tự nhiên cho nổi nữa mà tự nhiên khi người hiện diện trước mặt chẳng ai khác lạ, chính là Thu Cúc "bà la sát" ngày nào... Mái tóc mây đen huyền vẫn còn để dài thả bồng bềnh chấm vai, đôi chân mài rậm, cặp mắt sáng quắc thông minh, nhưng bây giờ trông hiền từ chớ không dữ dằn như ngày làm thịt tôi trước cổng trường. Thu Cúc chẳng khác xưa mấy, không phấn son nên trông khuôn mặt rất nhu, dễ lấy cảm tình người đối diện. Hình như cô không nhận ra tôi, riêng tôi một lần là nhớ tới già, nhận ra cô ngay tự phút đầu, có lẽ vì bị cô làm cho "sốc nặng" nên nhớ hoài. Tôi đứng sớ rớ ngượng ngùng ngó qua, ngó lại chẳng biết mình phải làm gì, nên đến phụ ông anh rể sắp xếp bàn ghế ở nhà trước cho có chuyện để làm, rồi hai anh em ngồi uống trà, hỏi vài câu chuyện qua loa. Ngồi trên bàn đó mà hồn để đâu đâu... cảm thấy lòng mình nao nao gợi nhớ...
Chị tôi và cô Hai đổ bánh, cô Cúc lặt rau, mọi người chuyện trò vui vẻ, tiếng chị tôi vang vang sau nhà:
- Lặt rau xong rồi để đó chị rửa cho Cúc, ra ngoài trước nói chuyện với cậu Út nó cho có bạn.
Tôi nghe tiếng Cúc trả lời dạ dạ, nhưng không thấy lên, thú thật tôi cũng đang mong tiếp chuyện cùng người đẹp bà la sát nầy, thử coi nàng "chằn" tới cỡ nào cho biết, chị tôi gãi trúng y bon chỗ ngứa hết sức. Khoảng chừng năm phút sau mới thấy cô Cúc lên, lại bàn kéo ghế ra ngồi đối diện tôi, rồi thân mật hỏi chuyện như người đã quen biết trước từ lâu:
- Anh Út nghỉ phép được bao lâu? Nghe chị Hường nói ngày trước anh cũng học Nguyễn Đình Chiểu?
Hường là tên chị tôi. Cô Cúc gợi chuyện rất tự nhiên làm tôi đỡ phần nào lúng túng, và cũng dễ bắt chuyện, cái tự nhiên hiếm thấy của một cô gái mới gặp đối tượng phút ban đầu. Ra đời rồi nó làm con người ta dạn dĩ? Không, tôi cũng ra đời rồi sao vẫn còn nhát gái như cheo. Nhìn cô Cúc, tôi cười nửa miệng trả lời:

- Dạ phải cô...trước đây có học Nguyễn Đình Chiểu. Tôi nghỉ phép hai tuần, qua được một tuần rồi. Về Mỹ Tho mấy ngày nay tìm thăm vài thằng bạn học cũ nhưng chẳng gặp mống nào, chán chết đi được, biết vậy tôi không về phép, ở lại đơn vị vui hơn.

Cô Cúc cười thành tiếng:

- Nói chuyện với tôi mà anh dạ, làm tôi giảm thọ chết.. nhớ hồi còn học bên Lê Ngọc Hân, mỗi lần đi ngang qua trường anh là bọn tôi muốn bắt khùng. Chọc ghẹo gì mà ngày nào cũng đón chọc, làm bọn tôi phải chịu khó đi bọc xa ra để tránh... Mấy anh dân Nguyễn Đình Chiểu cừ lắm mà! Sao bây giờ rụt rè vậy?
Tôi dân nhà binh mà rụt rè? Còn lâu, tại hơi nhát gái chút ít thôi, quen lâu rồi sẽ biết tay tôi chớ ở đó mà chê rụt rè. nghe cô Cúc nói vậy, tôi mới nói:
- Phá phách cũng tùy đứa chớ đâu phải dân học Nguyễn Đình Chiểu là đứa nào cũng phá? Hơn nữa nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò, không phá đâu phải học trò. Tôi hỏi thiệt nghen, hồi đó mấy cô bị tụi nó chọc ghẹo cái gì mà đến nỗi phải bắt khùng lên tội nghiệp dữ vậy?
Câu hỏi nầy là tôi cố ý "Gài" thử coi cô Cúc phản ứng ra sao. Rõ ràng lúc ban đầu cô có tỏ ra hơi ngượng, nhưng sau đó vui vẻ trả lời ngay:
- Ôi thôi đủ thứ hết, mấy anh cái gì cũng chọc, cũng ghẹo được, làm sao nhớ hết. Tôi ghét nhất là người ta đi mà đếm nhịp một hai, làm nhiều đứa yếu bóng vía quíu giò. Nhưng thật tình tôi không hiểu nổi con trai mấy anh, làm cho người ta thương thì đã đành đi chẳng nói làm chi, còn đằng nầy chọc cho người ta chủi mà cũng cố chọc cho bằng được mới nghe là sao?
Thiệt khéo trả lời. Tôi cười nhẹ nói:
- Đã nói là học trò mà cô...
- Thì tụi em cũng là học trò vậy! cũng có phá chút chút trong lớp nhưng đâu đến đỗi nào, có đâu như mấy anh, thành dịch.
Vì tụi em là con gái đó cô Thu Cúc ơi! Tôi muốn hỏi thành "dịch" là như thế nào, nhưng thôi, lảng sang chuyện khác:
- Tại cô hổng biết đó thôi, học trò Nam lúc nào cũng muốn chọc cho học trò Nữ chửi chơi đỡ buồn...
Cô Cúc trề môi xí một tiếng trông thiệt dễ thương:
- Xí! Hết chuyện sao lại chọc cho người ta chửi giải buồn? Bộ khùng hả? Lần đầu tôi mới nghe anh nói chuyện lạ đời nầy nghen.
Tôi phân trần:
- Thật đó! Cô để ý đi rồi sẽ thấy, càng chửi chừng nào tụi nó càng khoái chí chừng ấy, càng đón đường chọc cho cô chửi dài dài để tụi nó cười... Mà cô có lần nào bị chọc, rồi quay lại chửi cho hả giận chưa? chớ theo tôi thấy đa số mấy cô bị chọc ghẹo đều mắc cỡ, khúm núm lấy nón lá che mặt bỏ đi một nước hổng hay gì kịp.
Không cần suy nghĩ cô trả lời nhanh:
- Còn khuya! Gặp phải tôi, tôi chửi một trận cho bỏ ghét. Tội gì mắc cỡ bỏ đi cho mấy anh lừng, làm tới.
Tôi muốn nói chẳng những chửi còn đánh người ta nữa kìa, nhưng không dám, sợ người đẹp phát hiện ra mình mắc công đôi chối. Câu chuyện lanh quanh ở thời đi học, thân mật khá vui, được một lúc, có tiếng chị tôi và cô Hai to nhỏ phía sau, dọn lên được rồi. Cúc liền kéo ghế đứng dậy nói:
- Xin lỗi anh nghen, tôi phải ra sau bếp phụ dọn với mấy chị, tới đây làm khách ăn không, hổng làm gì hết coi sao được.
Nói rồi cô Cúc quay đi ra nhà sau...có tiếng xì xào to nhỏ, tiếng cười khúc khít... có lẽ cô Hai và chị tôi trêu chọc gì đó...Nói chuyện với Cúc tự nãy giờ, tôi cố tránh hai tiếng Thu Cúc sợ lại bị hiểu lầm...
Bữa bánh xèo hi hữu thật ngon miệng, Thật đậm đà...và cũng thật là vui. Cô Hai phối hợp với chị tôi rất ăn ý, hai người cố tình nói bóng, nói gió hoài làm tôi hơi ngượng, nhưng nhờ Cúc khéo léo ứng phó lèo lái, trả lời, nhờ vậy bầu không khí trở nên vui, không loãng, tôi cũng bớt ngượng ngùng. Chị tôi nhận xét chẳng sai chút nào, Cô Cúc ăn nói hoạt bát dễ thương...không phải Thu Cúc đầy ấn tượng dữ như chằng trong đầu tôi có sẵn từ lâu. Xong bữa ăn đầy ấp hứng thú tình cảm nầy, chị tôi quay qua hỏi Cúc:
- Bây giờ em định về nhà trọ ở Mõ cày hay về Mỹ Tho?
Cúc trả lời:
- Về Mỹ Tho chị. Cả tháng nay rồi em chưa về bển thăm ba má.
Tôi không biết Cúc thật sự muốn về thăm ba má, hay là diện cớ để về Mỹ Tho với tôi. Trong lòng dâng lên cái gì đó vui vui...
Chị tôi hớn hở nói:
- Vậy thì hay quá, cũng tiện đường, để cậu Út nó đưa dùm cho nhen?
Cô Hai cũng góp lời:
- Phải phải đó! Cậu Út cũng về Mỹ Tho, hai người đi chung cho có bạn...
Cô Hai nói xong, cười bí hiểm, Cúc Cũng cười, rồi nói:
- Cũng được, nhưng hổng biết anh Út có chịu cho em quá bộ không đây?
Khéo ăn nói, đi guốc trong bụng người ta đi ra, mà còn làm bộ, tôi cười trả lời:
- Sợ cô chê xe tôi ọc ạch, ngồi đau đít hổng đi thôi, chớ còn tôi thì lúc nào cũng sẵn lòng, chẳng những đưa mà còn đón nữa...
Câu nói thật tình của tôi làm mọi người cười ồ. Cô Hai còn pha trò:
- Chắc cậu Út nó trúng phải đòn gì rồi đây...
Cô Hai nói đúng, tôi bị trúng nặng phải đòn con gái...Sau khi phụ chị tôi và cô Hai dọn rửa chén đĩa xong, tôi và Cúc từ giã mọi người ra về. Trên con đường tỉnh lộ dài mười hai cây số từ thị xã đến bến phà Rạch Miễu, Cúc tâm sự với tôi nhiều chuyện về mình hết sức thú vị, nhất là vì sao cô chọn nghề làm cô giáo, tuy là con gái, nhưng cô có nhiều mộng tưởng hết sức cao đẹp, có chí tang bồng hồ thỉ, tính tự lập chẳng khác con trai. Tôi muốn biết về cô nhiều thứ lắm, nhất là đã có bóng hình nào ấp ủ trong lòng xây mộng tương lai chưa, nhưng lại không dám mở lời, mới quen, vụng về không khéo nói người ta cười chết. Đặc biệt, cô không hỏi gì về tôi hết, chỉ nói có nghe chị tôi nói nhiều về tôi, cảm thấy thích thích, hình như có cái gì đó ương ương hơi giống tánh mình nên khi chị ấy nói có tôi về rủ đến nhà đổ bánh xèo ăn, cô nhận lời ngay, muốn gặp thử một lần cho biết.
Tôi liền hỏi lại Cúc:
- Vậy bây giờ gặp mặt tôi rồi, cô thấy thế nào? Có còn thích thích nữa không? Nói cho tôi biết đặng tôi mừng.
Cúc vỗ nhẹ vai tôi cười nho nhỏ:
- Thiệt tình cho cái anh nầy…
Thật ra, nếu cô hỏi gì về tôi, tôi cũng chẳng biết phải trả lời sao, vì tôi đâu có cái gì để gọi là đáng nói. Bến phà Rạch Miễu chiều thứ bảy vắng khách, không như những ngày thường, tung tăng trong bến màu trắng thơ ngây của đám học trò chờ phà đi học. Con phà lầm lì lướt trên sóng nước, xa xa ẩn hiện vài chiếc thuyền con qua lại, tận cuối chân trời một màu đỏ thẫm của buổi chiều tàn, bên cạnh lại có Cô Cúc duyên dáng tâm tình. Tuyệt vời...Cảnh thơ mộng, người mộng mơ…ước gì thời gian dừng lại mãi mãi ở đây.... Đâu ai biết được rằng bập bềnh trên sóng nước chiều nay, có đôi trai gái mới quen nhau, tuy chưa ai mở lời hẹn ước, nhưng hình như hai tâm hồn trẻ nầy cảm thấy rất gần nhau, như quen nhau tự bao đời. Tới Mỹ Tho, tôi định đưa Cúc về nhà, nhưng cô từ chối, vì không muốn ba má bận tâm chuyện trai gái bên ngoài. Cô có cho địa chỉ nhà trọ, bảo tôi khi nào có dịp, ghé chợ Mõ Cày hỏi nhà trọ của mấy cô giáo ở thì ai cũng biết. Chúng tôi chia tay, Cúc bước lên xích lô, tôi thẫn thờ nhìn theo cho đến khi chiếc xe khuất dạng tận cuối con đường đỗ bóng hoàng hôn...
Chuyến về phép kỳ nầy tưởng đâu là vô vị, buồn tẻ, không dè đầy bất ngờ và vô cùng hứng thú. Tôi trở ra đơn vị đem theo hình bóng người con gái mang tên Thu Cúc... Thế rồi chiến cuộc càng ngày càng sôi động, càng khốc liệt hơn, đơn vị tôi hết tăng cường qua Mỹ Tho rải quân nằm cài răng lược từ cầu Long Định tới quận cai lậy cho sư đoàn 7 bộ binh hành quân, đến về lại Bến Tre giải tỏa áp lực cho quận Ba Tri trên chiến trường xã Bảo Thạnh. Miệt mài trong lửa đạn suốt mấy tháng trời không ngơi nghỉ tới ngày30/4 gãy súng..."Một cánh tay đưa lên...hàng ngàn cánh tay đưa lên"...đầu hàng. Áo trận anh em chúng tôi còn nực nồng mùi thuốc súng, máu đã đỗ nhiều trên khắp miền đất nước nhưng chưa hề nao núng, chưa một bước lùi ngoài trận tuyến, vậy mà buộc phải buông súng đầu hàng. Dẫu biết rằng hết chiến tranh là hết cảnh tang thương, huynh đệ tương tàn chén giết lẫn nhau, nhưng hết như vầy đau lòng và tủi thân người lính chiến quá. Biết bao người trai trẻ đem hết nhiệt tình xả thân đi vào cuộc chiến, để rồi sau cùng cảm thấy như mình bị bỏ rơi… Thế là xong, tôi tự nhủ lòng an ủi cho riêng mình, dù gì đi nữa, sau cuộc chiến thân thể mình không sứt mẻ gì hết cũng phước lắm rồi. Thành công hay thất bại sau nầy lịch sử phán xét, mình và đồng đội đã phục vụ tận sức rồi, còn cái gì nữa đâu mà phải áy náy. Trong lòng hết sức hoang mang, hổng biết số phận tàn binh của mình rồi đây người ta xử lý ra sao. Tạm thời về vườn ở với má tôi, đâu chừng được nửa tháng thì có lịnh trình diện học tập cải tạo, tôi quảy gói ra đi, tưởng ít ngày dè đâu ba năm dài đăng đẵng, may hôn bỏ mạng...
Ngày ra trại, tôi lê tấm thân tàn tạ như miếng giẻ rách bước vô nhà, má tôi nhìn muốn không ra, bà chỉ nói lên được mấy lời. Ối! con tôi như vầy đây sao rồi nghẹn ngào ôm chầm lấy tôi khóc nức nở, cầm lòng không được, tôi cũng muồi mẫn khóc theo, hai mẹ con ôm nhau mừng mừng, tủi tủi. Tình mẫu tử thiêng liêng vô bờ bến. Tôi nói thều thào nho nhỏ trong họng:
- Còn giữ được cái mạng về gặp lại má là phước ba đời rồi, con tưởng đâu không có ngày trở về với má…
Anh chị tôi cũng bị cho về vườn, cất nhà cạnh má tôi nương theo mảnh đất để sống. Hỏi thăm cô Cúc, chị tôi cũng chẳng biết bây giờ cô ra sao, trôi dạt về phương trời nào, một cuộc đổi đời, tất cả đều tan tác không ai ngờ trước được. Về được vài tháng, sức khỏe dần dần hồi phục, tôi có lần mò xuống Mõ Cày tìm Cúc, nhưng chẳng ai biết cô Thu Cúc nào hết. Lòng mong lung nhớ nhớ cái gì đó nên đi để mà đi chớ không hy vọng, bởi vì tôi có còn gì nữa đâu mà hy vọng. Có lẽ tôi và Cúc có duyên không phận, đành chịu biết sao hơn. Gặp nhau chi để canh cánh bên mình một nỗi nhớ thương. Tình yêu đầu đời vừa chớm nở, một sớm một chiều tan tành theo vận nước tối thui…
Ngày qua ngày, cuộc sống chán phèo, lặng lẽ gò bó trong thôn làng hẻo lánh, làm bạn với cây dừa, cây chuối, vậy mà cũng chưa yên thân, thỉnh thoảnh phải vát chiếu ra ngủ Đình ngoài cầu chợ cho mấy ông cán bộ lên lớp đôi ba ngày, hoặc đi làm “nghĩa vụ lao động” thủy lợi vét kinh đâu đó. Buồn cười, ở vào thời buổi khó khăn, ai nấy lo vật lộn với cuộc sống, hì hục chạy ăn từng bữa lại phải vát cơm nhà đi làm xâu gần trối chết mà cũng gọi là nghĩa vụ. Được thả về đâu chừng hơn nửa năm, bỗng một hôm má tôi kêu lại đề nghị:
- Tao nghe dì Tư mầy nói ở miệt dưới có một cô giỏi dắn lắm, tuy con nhà vườn nhưng coi rất ngộ gái, tao định nhờ mối lái cưới về cho mầy đặng phụ tao lo chăm sóc vườn tược, bếp nút, giỗ quải ông bà, chớ bây giờ tao già yếu rồi sống được bao lâu...còn mầy cứ lông bông như vầy hoài tao nhắm mắt hổng yên. Hơn nữa mầy cũng lớn rồi, về vườn cưới gái vườn mần ăn mới thích hợp, ăn phải theo thuở, ở phải theo thì…
Tôi chưa bao giờ có ý nghĩ lập gia đình, nhưng khi nghe má tôi nói vậy thấy cũng phải, "còn gì nữa đâu mà mong với chờ"...Ngày gần đất xa trời của má tôi chẳng còn bao xa mà phải để bà bận tâm lo lắng, hơn nữa, từ nào tới giờ tôi chưa hề làm được việc gì cho má tôi vui, dù là việc nhỏ, lo âu, muộn phiền thì thôi vô số kể. Đây cũng là một dịp để cho bà vui ở cuối cuộc đời, nếu chần chờ e là trễ mất, nghĩ vậy nên tôi chẳng chút đắn đo trả lời:
- Má tính vậy thì vậy đi, con đâu có đèo bồng phải là người như thế nầy, thế nọ đâu, sao cũng được. miễn má thấy vừa ý là con vừa ý.
Thế là xong! Đâu vào đó. "Mẹ mong gả thiếp về vườn, ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh" tưởng suốt cuộc đời nầy mình sẽ gắn chặt với mảnh vườn, với người vợ quê hiền thục, với bà mẹ già hết mục thương yêu con. Ngờ đâu, một hôm có đứa bạn đến rủ vượt biên, nó nói:
- Tao đóng tàu vượt biên, mọi chuyện đâu vào đó, còn một chỗ dành cho mầy, quyết định đi, tùy mầy. Đại bàng gãy cánh vẫn là đại bàng, không thể là chim sẻ cho người ta dày xéo hoài được.
Mấy đem dài lòng tợ tơ vò không sao ngủ được, tôi miên man suy nghĩ, hai chữ đi hay ở cứ ám ảnh mãi trong đầu. Đi thì sao? Ở thì sao? Vì hoàn cảnh chớ bông bí luộc tôi ăn hổng nổi, dưa hường nấu canh nuốt cũng hết vô. Đi không nỡ, chưa biết sống chết thế nào, còn mẹ già, vợ trẻ con thơ, ở lại không đành...ra cải tạo gần hai năm rồi, tôi vẫn còn bị quản thúc, chưa được trả quyền công dân. Xã hội mới, người mới, họ quan niệm ”Mười năm trồng cây, trăm năm trông người,” con em những ai liên hệ với chế độ cũ kể như ra rìa, không chỗ đứng, thậm chí ở trường học không được lên cấp ba, thi vào đại học, huống hồ chi tôi, là lính ngụy được liệt vào thứ tàn dư Mỹ Ngụy để lại, cặn bã xã hội. Muốn an phận làm phó thường dân Nam Bộ hổng ai cho, họ coi tôi có ra cái thá gì đâu mà phải lưu luyến thửa đất mảnh vườn, quê cha đất tổ, nơi chôn nhau cắt rốn mấy đời ông bà? May mắn, nhà có chút ít vườn tược, không thôi chỉ có nước đi ăn mày. Đã quá ngán ngẩm cho phần số mình rồi, đây là cơ hội có một không hai để đại bàng tung cánh, nếu bỏ qua, chắc chắn sẽ lỡ dịp tốt, không có lần thứ hai.Nhưng một bên tình sâu nghĩa nặng, một bên tương lai cả đời còn lại sau nầy, mình phải chọn một trong hai, biết tính sao đây cho được vuông tròn? Hỏi ý kiến má tôi và vợ, hai người đều nói tùy thuộc ở tôi. Thôi thì cứ nói như họ nói, “hy sinh đời bố, củng cố đời con” đánh liều một chuyến, ra sao thì ra. Có chết cũng đáng một đời, may ra sống, còn hy vọng thấy ánh sáng cuộc đời. Chẳng lẽ sống hết một kiếp người bị chà đạp trong u tối ở xó quê nầy? Đại bàng nhất định phải chấp cánh tung mây…
"Đêm xuống tàu vượt biển, ngoái lại nhìn, ơi má, cả trời thương"...(*) Tôi ra đi bỏ lại quê hương không biết bao nhiêu thứ tình. Tình người vợ quê chưa ăn ở được bao lâu, nhưng đầy ấp nghĩa tào khang với đứa con mới chào đời còn đỏ hói, tình anh em ruột rà máu mủ, và tình nghĩa người mẹ già thương yêu cả đời tận tụy lo cho con. Tôi cũng không thể nào ngờ được rằng đêm tiễn đưa hôm đó lại chính là đêm cuối cùng tôi gặp má tôi, vì sức chịu đựng của người mòn mỏi đã vĩnh viễn ra đi, không kịp đợi con về...Và quyết định ra đi của tôi, cũng trả giá bằng tám năm trời cách biệt, sau đó mới sum hợp lại được với người vợ quê cùng đứa con đầu lòng yêu dấu.
Giờ đây, như được đền bù, tôi có một mái âm gia đình, an lạc, hạnh phúc bên cạnh người vợ hiền hết mực chiều chồng ở tận phương trời xa xôi Úc Châu nầy, nhưng không hiểu sao đôi khi nhớ lại chuyện xưa, lòng vẫn còn vấn vương nhớ tới một người...Tôi thầm mong cô giáo mang tên Thu Cúc ngày nào, dù cho ngọn sóng đời có đẩy đưa đi về đâu đi nữa, tha phương hay còn ở quê nhà, cũng có những chuỗi ngày tràn đầy hạnh phúc giống như tôi....Ai cũng có một thời để nhớ, một thời để yêu. Thời để nhớ của tôi thiệt không đáng nhớ chút nào, nhưng dù gì đi nữa, đó cũng là dấu ấn để đời khó phai nhạt trong ký ức tôi.


Mười Trí.


(*)-Ngọn đèn chong mắt. thơ Đoàn Xuân Thu

Last Updated on Saturday, 20 May 2017 16:59
 

Xem những bài viết khác của Tác giả Mười Trí