Skip to content

NĐCLNH Úc Châu

Increase font size Decrease font size Default font size default color light color
Home Diễn Đàn Bạn Đọc VIỆT NAM và VẤN ĐỀ TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG...
VIỆT NAM và VẤN ĐỀ TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG... PDF Print E-mail
Written by Ls Lưu Tường Quang   
Thursday, 19 May 2011 16:24

VIỆT NAM và VẤN ĐỀ TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG TRONG THẬP NIÊN 2010-2020

* Ls Lưu Tường Quang, AO

Tóm lược:

Thế giới bước vào năm 2011 với nhiều diễn tiến và biến đổi quan trọng mà hậu quả có thể dẫn đến nhiều hình thái khác nhau trong thập niên nầy.

Sau khi đã bỏ lỡ cơ hội tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc trong hai năm 2008-09 với tư cách hội viên không thường trực, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam đã thành công phần nào, trong vai trò chủ tịch Asean năm 2010, khi vấn đề Biển Đông được nêu lên tại Hội Nghị Asean Regional Forum (ARF), Hội Nghị Bộ Trưởng Quốc Phòng Mở Rộng (ADMM+). Tuy nhiên, thành công nầy chỉ là một bước sơ khởi về mặt tiến trình còn về mặt nội dung, cuộc thảo luận chưa đem lại kết quả gì cụ thể.

Bởi vậy, trừ phi vấn đề tranh chấp Biển Đông được ‘định chế hóa’ vào nghị trình Asean, Asean + 3, Asean + 6 và Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Á (East Asia Summit – EAS) cho đến khi một giải pháp công bằng được đồng ý giữa Asean, hoặc giữa 5 thành viên Asean (Việt nam, The Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia) và Trung Quốc, những tranh chấp tại Biển Đông vẫn cô động nguyên trạng và tiếp tục gây căng thẳng trong vùng cho đến cuối thập niên, khi Việt nam có cơ hội trở lại vị trí chủ tịch Asean lần thứ nhì (và lúc ấy Việt Nam không hẳn còn dưới chế độ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa*).

Trong liên hệ giữa đảng với đảng, Đảng Cộng Sản Việt nam (ĐCV) bị chi phối quá nhiều bởi Đảng Cộng Sản Trung Quốc (CPC). Còn về mặt chánh trị và quân sự, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam không đủ sức đương đầu với Trung Quốc, nên phải tìm sự ủng hộ trong thế giới đa cực, cá biệt là Hoa Kỳ. Bởi vậy, trong vấn đề Biển Đông, nỗ lực quốc tế hóa và phương cách đa phương phải được tích cực theo đuổi. Nhưng khi đánh giá và dự phóng vai trò của Hoa Kỳ, chúng ta phải đặt quan hệ giữa Washington và Hà nội trong bối cảnh quyền lợi chiến lược và kinh tế của Mỹ tại Châu Á Thái Bình Dương nói chung và với Trung Quốc nói riêng (**).


A. Bối cảnh chánh trị đầu thập niên

Thế giới bước vào năm 2011 với nhiều diễn tiến và biến đổi quan trọng mà hậu quả có thể dẫn đến nhiều hình thái khác nhau.

Nhiều diễn tiến có tính cách định kỳ, nhưng có vài biến đổi bất ngờ xảy ra.

Ít ai đã có thể dự đoán tình trạng tại Bắc Phi, khi chế độ Zine El Abidine Ben Ali sụp đổ tại Tunisia và 30 năm cầm quyền của Tổng thống Hosni Mubarak chấm dứt tại Ai Cập. Cả hai biến cố có khả năng tạo hậu quả dây chuyền bên trong và bên ngoài thế giới Hồi Giáo. Thế giới tây phương – đặc biệt là Hoa Kỳ – bổng chốc phải đối phó với một khủng hoảng chánh trị và ngoại giao. Tổng thống Mỹ Barack Obama nỗ lực tạo ảnh hưởng đối với một thể chế tương lai tại Ai Cập, bằng cách áp lực Tổng thống Mubarak từ chức và chuyển giao quyền lực cho một chánh quyền chuyển tiếp mà Washington hi vọng là có thể thân Tây Phương. Ông Mubarak từ nhiệm ngày 11-02-2011 và trao quyền lại cho Hội Đồng Quân Lực Tối Cao Ai Cập.

Nét chung của phong trào quần chúng nổi dậy tại Tunis và Cairo là đòi hỏi tự do dân chủ bằng cách lật đổ hai tổng thống đã cầm quyền nhiều năm – một từng được Pháp ủng hộ và một từng là đồng minh của Hoa Kỳ. Khác với biến cố đẫm máu tại Quảng Trường Thiên An Môn Bắc Kinh và biểu tình qui mô tại Tehran (Iran), quân đội Tunisia và Ai Cập đã không tàn bạo đàn áp dân chúng.

Tuy nhiên, viễn ảnh mà Tây Phương lo ngại là một chánh phủ phi-dân-chủ lại được thay thế bằng một thể chế độc tài như Cộng Hòa Hồi Giáo Iran từ sau năm 1979. Ngày nay, Tổng thống Obama kêu gọi thành lập một chánh phủ có tư cách đại diện quần chúng tại Ai Cập, nhưng chính Tổng thống Mỹ tiền nhiệm George W Bush mới là người chủ xướng dân chủ hóa các quốc gia Hồi Giáo.

Cuộc ‘Cách Mạng Bông Lài’ (‘the Jasmine Revolution’) chỉ xứng đáng với danh nghĩa cách mạng, nếu Tunisia và Ai Cập trở thành những quốc gia dân chủ thật sự và do đó tạo niềm hứng khởi và hi vọng cho những dân tộc còn bị áp bức từ Bắc Phi / Trung Đông, đến Tây Á, Đông Bắc Á và Đông Nam Á, kể cả Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam.

Một diễn tiến định kỳ đã xảy ra là Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam hồi giữa Tháng Giêng năm 2011 mà kết quả chỉ là ‘rượu cũ bình cũ’, với một thành phần lãnh đạo không được đánh giá cao về viễn kiến và khả năng canh tân Việt nam, ít nhứt là trong 5 năm sắp tới [1].

Tập đoàn lãnh đạo gồm Ông Nguyễn Phú Trọng, trong vai trò Tổng Bí Thư thay thế Ông Nông Đức Mạnh, Ông Trương Tấn Sang dự kiến sẽ thay thế Ông Nguyễn Minh Triết trong chức vụ Chủ Tịch Nước và Ông Nguyễn Tấn Dũng dự kiến sẽ tiếp tục làm thủ tướng, một chức vụ mà quyền hạn được coi là đang gia tăng. Tuy vậy, Ông Nguyễn Tấn Dũng có thể gặp hai khó khăn nội bộ.

Một là trong cuộc tranh đua giữa hai đối thủ, Ông Nguyễn Tấn Dũng có vẻ thắng thế, nếu ông tiếp tục chức vụ thủ tướng và Ông Trương Tấn Sang nắm giữ vai trò Chủ tịch nước có tính cách nghi lễ. Thế nhưng, một trong những quyết định đầu tiên của Bộ Chính Trị là Ông Trương Tấn Sang tiếp tục giữ chức Thường Trực Ban Bí Thư và trong vị thế nầy, Ông Trương Tấn Sang vẫn còn là một nhân vật đầy quyền lực.

Hai là nếu Ông Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ tướng thường trực, nắm chức chủ tịch Quốc Hội (và thay thế Ông Nguyễn Phú Trọng), thì quan hệ với Ông Nguyễn Tấn Dũng có khi sẽ không thuận buồm xuôi gió, vì những tranh chấp cá nhân trong quá khứ giữa hai người.

Bộ Chính trị mới gồm 14 người, có nhiều thành viên thuộc ngành công an, trong khi Tướng Phùng Quang Thanh vẫn là đại diện duy nhứt của quân đội. Điều đáng chú ý là trong số những ủy viên Bộ Chính Trị nghỉ hưu, ngoài Ông Nông Đức Mạnh và Ông Nguyễn Minh Triết, còn có Ông Phạm Gia Khiêm, Phó Thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao.

Sự vắng mặt của Ông Phạm Gia Khiêm sau Đại Hội XI là một ngạc nhiên, vì ông đã được đề cử vào Ủy Ban Trung Ương, nhưng đã thất cử và do đó không thể tranh cử vào Bộ Chính Trị.

Ngày nay, trong thế giới toàn cầu hóa, khi Việt nam phải đối phó với nhiều thử thách, vai trò của ngoại giao trong chánh phủ sẽ thiếu tầm vóc, nếu bộ trưởng ngoại giao mới không phải là ủy viên Bộ Chính Trị. Đây cũng là nhận xét liên hệ đến Ngoại trưởng Trung Quốc đương nhiệm Dương Khiết Trì / Yang Jiechi, vì ông không có chân trong Bộ Chính Trị Bắc Kinh gồm 25 người. Tình trạng nầy tương tự như một bộ trưởng ngoại giao không phải là thành viên hội đồng nội các của một chánh phủ dân chủ tây phương, như Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi hay các nước Liên Âu. Chúng ta không thể tưởng tượng Bà Hilary Clinton, Ông William Hague hoặc Ông Kevin Rudd không có chân trong hội đồng nội các chánh phủ Mỹ, Anh và Úc. Cũng như bộ chính trị đảng cộng sản, hội đồng nội các là cơ chế tối cao quyết định chánh sách.

Trong quá khứ tại Việt nam, ngoài Ông Nguyễn Duy Trinh và Ông Phạm Gia Khiêm, hầu hết các ngoại trưởng khác, như Ông Nguyễn Mạnh Cầm, đều chỉ là Ủy Viên Trung Ương, khi được bổ nhiệm bộ trưởng ngoại giao [2].

Hai diễn tiến sắp xảy ra và có thể ảnh hưởng đến chủ đề của bài nầy. Vào năm 2012 tại Bắc Kinh, Đảng Cộng Sản Trung Quốc sẽ họp đại hội lần thứ 18 mà hai nhân vật dự kiến sẽ thay thế Chủ tịch nước kiêm Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào / Hu Jintao và Thủ tướng Ôn Gia Bảo / Wen Jiabao là Ông Tập Cận Bình / Xi Jinping và Ông Lý Khắc Cường / Li Keqiang. Ông Tập Cận Bình, một ‘hoàng tử đỏ’, hiện nay là Phó Chủ Tịch nước kiêm Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung Ương, còn Ông Lý Khắc Cường là Phó Thủ tướng. Cho đến vài năm gần đây, thế giới bên ngoài đã không biết nhiều về Ông Tập Cận Bình, cá biệt là trong lãnh vực ngoại giao và an ninh quốc phòng.

Cũng trong năm 2012, Tổng thống Obama sẽ phải tranh cử cho nhiệm kỳ thứ nhì và trừ phi có một ứng cử viên thật sáng giá đại diện cho Đảng Cộng Hòa Mỹ, hoặc nền kinh tế Hoa Kỳ tuột dốc thảm hại, có lẽ Đảng Dân Chủ Mỹ sẽ tiếp tục nắm giữ Tòa Bạch Ốc cho đến năm 2016. Nhưng ngay cả khi Ông Obama tiếp tục làm tổng thống, Washington có thể sẽ có bộ trưởng quốc phòng và bộ trưởng ngoại giao mới. Ông Robert Gates, được lưu nhiệm từ thời Tổng thống George W Bush, đã ngỏ ý muốn rời Ngũ Giác Đài. Còn Bà Hilary Clinton có thể không muốn tiếp tục làm ngoại trưởng.

B. Ai tranh chấp với ai và về vấn đề gì tại Biển Đông?

Trong thập niên 2010, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam tiếp tục gánh vác hành lý nặng trĩu của quá khứ trong khi phải đối phó với nhiều thử thách lớn do những diễn biến mới trong khu vực cũng như toàn cầu vào giai đoạn đầu của thế kỷ thứ 21- được coi là Thế Kỷ Châu Á Thái Bình Dương. Một số những khó khăn ngày nay là hậu quả của chánh sách và quyết định sai lầm của ĐCV từ sau Thế Chiến Thứ Hai trong thế kỷ thứ 20. Nổi bật hơn cả trong tầm nhìn chiến lược với Trung Quốc là ‘Công Hàm Phạm Văn Đồng’ năm 1958, khi ĐCV đặt quyền lợi Đảng trên sự toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam và quyết định của ĐCV năm 1995 trong vấn đề Sông Mê Kông. Cả hai quyết định nầy đưa đẩy Việt Nam ngày nay nằm trong gọng kìm Bắc Kinh [3].

Quan hệ Bắc Kinh - Hà Nội được gói ghém trong‘16 chữ vàng’ và ‘tinh thần 4 tốt’ - là  láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai và láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt. Tại Bắc Kinh ngày 18-02-2011, khi tiếp đặc phái viên của Ông Nguyễn Phú Trọng, Ông Hồ Cẩm Đào đã nhắc lại ‘phương châm’ nầy trong ‘quan hệ chiến lược toàn diện’ giữa hai nước, và mời Ông Nguyễn Phú Trọng ‘sớm’ viếng thăm Trung Quốc. Ông Nguyễn Phú Trọng đã gởi Ông Hoàng Bình Quân, Ủy Viên Trung Ương, Trưởng Ban Đối Ngoại của ĐCV đến Bắc Kinh để báo cáo kết quả Đại Hội ĐCV XI. Khi làm chủ tịch quốc hội, Ông Nguyễn Phú Trọng đã thăm viếng Bắc Kinh trước tiên và không ai ngạc nhiên, nếu Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng cũng sẽ lại đi Bắc Kinh trước tiên. Ông Nguyễn Phú Trọng được coi là nhân vật thân Trung Quốc [4].

Những mỹ từ và phương châm nói trên không che đậy được bản chất bất bình đẳng giữa hai nước gọi là ‘anh em’. Thí dụ cụ thể của quan hệ bất bình đẳng nầy là Hiệp Ước năm 1999 và 2000 phân định biên giới đất liền và biển trong Vịnh Bắc Việt giữa Việt nam và Trung Quốc. Tình hữu nghị ‘môi hở răng lạnh’còn bó tay buộc chân Bộ Chính Trị ĐCV. Một thí dụ khác là để chuẩn bị cho Hội Nghị ADMM+ , Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc Phòng, đã đến Bắc Kinh ngày 22-08-2010 để gặp gỡ những quan chức Trung Quốc kể cả Bộ Trưởng Quốc Phòng Lương Quang Liệt / Liang Guanglie và khẳng định ‘chính sách ba không’ như sau: “ Việt Nam không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia”. Hay nói khác hơn, theo ý tôi, Hà nội không dám tìm đối trọng với Trung Quốc mà còn ‘ủng hộ sự phát triển của Trung Quốc, trong đó có phát triển quốc phòng’. Tất nhiên, Ông Nguyễn Chí Vịnh cũng đã đến Washington và Canberra, nhưng các sinh hoạt nầy được coi là ‘thường lệ’ và chính Global Times, cơ quan ngôn luận quốc ngoại của Bắc Kinh cũng thuật như vậy [5].

Biển Đông là hải lộ huyết mạch nối liền Bắc Á với Nam Á, và Trung Đông nên giữ vị trí chiến lược quan trọng về phương diện quân sự và kinh tế thương mại mà lại giàu về tài nguyên thiên nhiên. Bởi vậy, tranh chấp tại Biển Đông phức tạp và liên hệ đến ít nhứt 3 vấn đề khác nhau với những tác nhân khác nhau.

Về đảo biển, có 6 tác nhân tranh chấp chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: đó là 4 nước Asean (Việt nam, Philippines, Brunei và Malaysia), Trung Quốc và Đài Loan. Tuy không đòi chủ quyền về đảo biển, Indonesia có tranh chấp với Trung Quốc về Vùng Kinh Tế chuyên biệt (EEZ) và thềm lục địa. Indonesia chỉ mới nêu vấn đề nầy qua công hàm gởi Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon ngày 08-07-2010, tức là vài tuần lễ trước Hội nghị ARF ngày 23-07-2010 tại Việt nam [6]. Trung Quốc đã công bố bản đồ mà 80% diện tích Biển Đông bị Bắc Kinh coi như ‘nội hải’ với đường chín đoạn trông như lưỡi bò. Còn đối với Hoa Kỳ cũng như các nước trong và ngoài vùng Đông Nam Á như Ấn Độ và Úc Đại Lợi, tự do lưu thông hàng hải tại Biển Đông (và bất cứ nơi nào khác) là quyền lợi quốc gia [7].

Năm thành viên Asean chưa có lập trường chung đối với Trung Quốc (và Đài Loan), nhưng Tổ chức Asean và Trung Quốc đã đồng ý về một Tuyên Bố Nguyên Tắc Ứng Xử (Declaration of Conduct – DOC) từ năm 2002 nhằm giải quyết tranh chấp tại Biển Đông bằng phương thức ngoại giao ôn hòa. Nhưng DOC chỉ có tính cách tự nguyện, nên Trung Quốc tùy tiện áp dụng hoặc bất chấp DOC. Asean, đặc biệt là trong năm 2011 với Indonesia giữ vai trò Chủ tịch, nỗ lực thương thuyết biến đổi DOC thành Qui Luật Ứng Xử (Code of Conduct – COC) – một mục tiêu mà Hoa Kỳ ủng hộ.

Indonesia là thành viên nguyên thủy của Asean và được coi là quốc gia Hồi giáo ôn hòa đang trên đường dân chủ hóa. Có chân thường trực trong Nhóm G-20, tầm ảnh hưởng của Indonesia vượt ngoài phạm vi của Asean. Trên nguyên tắc, Indonesia phải chờ đến năm 2013, nhưng Indonesia nắm giữ chức chủ tịch Asean trong năm 2011, sau khi đề nghị hoán chuyển với Brunei được đồng ý. Cao Miên sẽ giữ vai trò chủ tịch luân phiên vào năm 2012 và Brunei vào năm 2013.

Khác biệt căn bản về mặt tiến trình là Trung Quốc chủ trương thương thuyết song phương và tố cáo Mỹ ‘xúi giục’ các nước Đông Nam Á kể cả Việt nam ‘quốc tế hóa’ vấn đề Biển Đông. Cao Miên, một thành viên Asean không có tranh chấp, và được Trung Quốc viện trợ rất nhiều, chẳng những đã ủng hộ phương thức song phương mà còn bạo miệng phụ họa Bắc Kinh lên tiếng chỉ trích Hoa Kỳ là đã can thiệp vào việc nội bộ trong vùng. Thái Lan cũng ủng hộ lập trường song phương của Trung Quốc [8].

Cao Miên đang theo Trung Quốc để đối trọng với Việt Nam, còn Brunei có thể dễ dàng bị áp lực của Bắc Kinh, tương tự như Thái Lan trong năm 2009 khi Thủ tướng Abhisit Vejjajiva làm Chủ tịch Asean.

Bởi vậy, tôi nghĩ rằng 2011 rất quan trọng cho Việt nam. Nếu vấn đề Biển Đông không đạt được tiến triễn cụ thể nào, ít nhứt là về mặt tiến trình, thì tôi e rằng trong hai năm kế tiếp, Việt nam sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.

Năm 2011 cũng rất quan trọng cho Indonesia. Trong lễ bàn giao chức vụ chủ tịch Asean hồi cuối năm 2010, Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono đã nói Asean là tụ điểm then chốt của nền ngoại giao Indonesia. Với chủ đề ‘Asean Community in a Global Community of Nations’, Indonesia theo đuổi hai tham vọng là biến Asean từ một hiệp hội thành một ‘Cộng Đồng’ vào năm 2015 như đã dự kiến, và phát huy ảnh hưởng của Asean trên căn bản toàn cầu với Jakarta làm thủ đô ngoại giao của Asean. Vào cuối năm 2011, Hội Nghị EAS sẽ có tổ̀ng thống Mỹ và Nga tham dự lần đầu tiên [9].

Tham vọng nầy đòi hỏi lãnh đạo và Tiến sĩ Marty Natalegawa, Ngoại trưởng Indonesia, đã nhận xét là Asean đã ‘thiếu vắng lãnh đạo’ (‘vacuum of leadership in Asean’). Chúng ta có thể hiểu nhận xét nầy nhằm vào Việt Nam, cá biệt là về mặt nhân quyền. Ủy Hội Liên Chánh Phủ về Nhân Quyền của Asean (Asean Inter-governmental Commision on Human Rights – AICHR) là một cơ chế hữu danh vô thực. Mặc dầu chủ đề của Asean 2010 là biến viễn kiến thành hành động (‘From Vision to Action’) vấn đề nhân quyền đã thoái hóa trong thời gian Việt nam làm chủ tịch. Indonesia cam kết nâng việc cải thiện nhân quyền thành vấn đề ưu tiên của Asean. [10]

Tuy nhiên trong vấn đề Biển Đông, tôi nghĩ là lập trường của Indonesia có thể thuận lợi cho Việt nam. Hai ngày trước khi Tổng thống Obama hội kiến với lãnh đạo Asean tại New York, Ngoại trưởng Marty Natalegawa đã bác quan điểm của Bắc Kinh là Hoa Kỳ nên đứng ngoài cuộc tranh chấp ở Biển Đông. Indonesia cũng đặt nặng việc thương thuyết nâng DOC thành COC và tiến trình đã bắt đầu tại Hội Nghị cấp Bộ Trưởng Ngoại Giao Asean - Trung Quốc ở Côn Minh ngày 25-01-2011. Chúng ta phải chờ xem nỗ lực của Indonesia có đem lại kết quả gì cụ thể trong thời gian giữ chức chủ tịch Asean, trước thái độ ngao mạn của Trung Quốc [11].

C. Bên ngoài Asean:

(1) Úc Đại Lợi - Trung Quốc và Biển Đông

Australia là một cường quốc đáng kể về mặt quân sự và kinh tế trong vùng Châu Á Thái Bình Dương. Bạch Thư Quốc Phòng 2009 của Úc đã đề xướng kế hoạch gia tăng khả năng quốc phòng nhằm đối phó với thử thách trong vòng 20 năm sắp tới, vì sự trỗi dậy của Trung Quốc là mối quan tâm chính của Canberra [12].

Qua những công điện mà Đại Sứ Quán Mỹ chuyển về Washington DC cũng như các chi tiết cuộc thảo luận giữa Thủ tướng Kevin Rudd và Ngoại trưởng Hilary Clinton ngày 24 tháng 3 năm 2009, chúng ta biết rằng Ông Kevin Rudd đã ‘cố vấn’ Bà Clinton là Hoa Kỳ và Úc Đại Lợi tiếp tục khuyến khích Trung Quốc hội nhập vào môi trường thế giới đương đại, nhưng phải chuẩn bị ‘sử dụng võ lực nếu mọi việc tai hại xảy ra’. Hay nói cách khác, Tây Phương phải phát triển hợp tác về mọi mặt với Bắc Kinh, nhưng phải sẵn sàng sử dụng quân lực chống lại Bắc Kinh, nếu cần. Công điện mật còn cho biết thêm là Thủ tướng Kevin Rudd đã đề nghị thành lập ‘Cộng Đồng Châu Á Thái Bình Dương (The Asia-Pacific Community) với mục đích chủ yếu là chận đứng sự bành trướng của Trung Quốc. Wikileaks cũng xác nhận phản ứng mà chúng ta đã biết là Bắc Kinh giận dữ đối với Canberra [13]. Thế nhưng, Ông Kevin Rudd với tư cách ngoại trưởng Úc, cổ xúy một chánh sách mà ông gọi là ‘Đường lối thứ ba’ (the Third Way) tức là không đối nghịch mà cũng không quị lụy Bắc Kinh [14].

Trong vấn đề Biển Đông, Canberra đã từng ủng hộ quan điểm của Bắc Kinh, khi Ngoại trưởng Stephen Smith tuyên bố hồi giữa năm 2010 rằng các quốc gia tranh chấp nên giải quyết vấn đề bằng những cuộc thương thuyết song phuong [15].

Tuy nhiên, sau khi tham dự Hội Nghị ADMM + hồi tháng 10 năm 2010, Ông Stephen Smith, trong tư cách Bộ trưởng Quốc Phòng, chỉ nói rằng vấn đề tranh chấp nầy nên được giải quyết giữa các phe liên hệ, nhưng không nói rõ là dưới hình thức song phương hay đa phương. Theo ý tôi, đây là một ‘diplomatic ambiguity’ – một phát biểu song nghĩa ngoại giao có dụng ý và không hẳn là Úc thay đổi lập trường, mặc dầu để phản ảnh sự hợp tác giữa hai nước về phương diện quốc phòng, Ông Stephen Smith và Ông Phùng Quang Thanh đã ký một Bản Ghi Nhớ / Memorandum of Understanding vào dịp nầy [16].

Hồi tháng 9 năm 2009, nhân chuyến công du Úc Châu của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Phó thủ tướng Julia Gillard và Phó thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Gia Khiêm đã ký Thỏa Hiệp nâng quan hệ song phương lên mức hợp tác toàn diện. Văn kiện nầy không đề cập vấn đề Biển Đông, ngoài việc hai bên kết ước hợp tác xây dựng niềm tin để giảm hạ nguy cơ xung đột trong vùng Châu Á Thái Bình Dương [17].

(2) Ấn Độ và Chánh sách Hướng Đông

New Delhi cùng với Washington, Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa được coi là 4 trung tâm quyền lực của thế giới đa cực vào giữa Thế Kỷ Châu Á Thái Bình Dương. Cũng như Trung Quốc, Ấn Độ đang phát triển mạnh và được coi là cường quốc kinh tế đang lên, nhưng khác với Trung Quốc, Ấn Độ là một quốc gia dân chủ. Cũng như Hoa Kỳ, Ấn Độ vừa là quốc gia đối tác vừa là quốc gia cạnh tranh với Trung Quốc. Nhưng quan trọng hơn đối với Việt nam, Ấn Độ đang phát triển chánh sách gọi là Hướng Đông (Look East Policy), một phần để đối phó với chiến lược bao vây của Trung Quốc và phần khác để tạo ảnh hưởng của Ấn Độ bên ngoài Ấn Độ Dương.

Ấn Độ đã từng có chiến tranh biên giới với Trung Quốc năm 1962 và với Pakistan năm 1965. Cả ba nước tranh chấp chủ quyền lãnh thổ tại Kashmir và đây là một vấn đề nóng. Nhìn từ quan điểm New Delhi, chánh sách Nam Á của Bắc Kinh là bao vây Ấn Độ với những quan hệ đặc biệt từ Miến Điện đến Pakistan ở phía Đông Bắc và Tây Bắc và ngay cả ở phía Nam như Sri Lanka. Nhìn từ quan điểm Bắc kinh, Ấn Độ đang cải thiện quan hệ với Mỹ và các nước Đông Nam Á, kể cả Việt nam, và Bắc Á kể cả Nhựt Bản để bao vây Trung Quốc. Xét về góc cạnh địa chính trị, cả hai lập luận có vẻ không thiếu cơ sở. Nhưng chánh sách Hướng Đông của Ấn Độ từ năm 1991 và Vươn Ra Toàn Cầu (Go Global Policy) của Trung Quốc từ năm1999 nhằm nhiều mục tiêu mà quan trọng hơn cả là phát triển kinh tế.

Nhưng, cả hai chánh sách đều có tác dụng như là nỗ lực của nước nầy để bao vây đối thủ về mặt chiến lược ngoại giao và quốc phòng. Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đã từng nói chánh sách Hướng Đông không chỉ là một chiến lược kinh tế mà còn là sự thay đổi về tầm nhìn của Ấn Độ đối với thế giới ngày nay.

Sau khi tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh EAS tại Việt nam, Thủ tướng Manmohan Singh còn thăm viếng Nam Hàn và Nhựt Bản và sau đó vào tháng 11-2010, tiếp đón Tổng Thống Obama tại New Delhi. Đề tài thảo luận song phương bao gồm sự trỗi dậy của Trung Quốc. Bắc Kinh coi những sinh hoạt ngoại giao nhộn nhịp nầy là bằng chứng Mỹ-Ấn theo đuổi chiến lược bao vây Trung Quốc. Sau diễn tập hải quân hổn hợp với Mỹ và Nhựt Bản tại Ấn Độ Dương hồi năm 2007, Ấn Độ dự kiến sẽ diễn tập với Mỹ và Nhựt Bản vào tháng 4 năm 2011 tại vùng biển Okinawa [18].

Việt nam là mục tiêu của cả hai chánh sách  Hướng Đông và Vươn Ra Toàn Cầu. Giữa hai cường quốc Châu Á, Việt nam phải phát triển quan hệ với Ấn Độ để đối trọng với Trung Quốc.

Cũng như Hoa Kỳ, Ấn Độ coi tự do lưu thông hàng hải tại Biển Đông là quyền lợi quốc gia. Hơn phân nữa (55%) lượng hàng hóa giao thương giữa Ấn Độ và Bắc Á được chuyển vận qua Biển Đông mỗi năm.

Việt nam và Ấn Độ đã ký thỏa hiệp hợp tác chiến lược hồi năm 2007 nhân chuyến công du của Ông Nguyễn Tấn Dũng. Chuyến thăm viếng Ấn Độ của Bộ trưởng Phùng Quang Thanh hồi tháng 11 năm 2009 cũng được coi là mốc điểm trong quan hệ song phương để phát triển hợp tác quốc phòng dưới hình thức đối thoại thường niên. Nhân Hội Nghị ADMM+, Bộ trưởng Quốc Phòng Ấn Độ, Ông A. K. Anthony và Ông Phùng Quang Thanh đã thỏa hiệp mở rộng hợp tác hàng hải gồm cả việc Ấn Đố giúp đỡ bảo trì tàu chiến hải quân Việt nam mà hầu hết đã cũ và do Liên Sô/ Liên Bang Nga chế tạo. Ấn Độ cũng sẽ huấn luyện hải quân Việt nam và tàu Ấn Độ có thể sử dụng phương tiện hải cảng Việt nam.[19].

(3) Hai Ẩn Số: Liên Bang Nga và Anh Quốc

Ẩn số không có nghĩa là Liên Bang Nga và Anh Quốc không có chánh sách về Biển Đông mà chỉ ghi nhận là vấn đề nầy đã không hoặc chưa được bàn cãi, tranh luận sâu rộng. Trong liên hệ với Việt nam, Nga có nhiều lợi thế hơn Anh vì lý do lịch sử thời cộng sản giữa Moscow và Hà Nội. Nga cũng là thành viên của nhiều tổ chức tại Châu Á Thái Bình Dương như APEC, và liên hệ với Asean như ARF, ADMM+ và EAS – là những diễn đàn quan trọng mà Anh Quốc vắng mặt.

Liên Sô đã từng là siêu cường và đồng minh thân cận của cộng sản Bắc Việt trong thời chiến tranh. Nhưng kể từ khi chế độ Liên Sô sụp đổ năm 1991, Liên Bang Nga gặp nhiều khó khăn kinh tế, nên sức mạnh quân sự và ảnh hưởng chánh trị ngoại giao của Nga bị suy giảm phần nào. Trong thời gian Tổng thống Boris Yeltsin cầm quyền, tầm vóc GDP của Nga bị giảm 60%. Ông Vladimir Putin trong vai trò tổng thống và sau đó thủ tướng, đã thành công phần nào trong việc chấn hưng kinh tế và phục hồi thế đứng của Nga trên thế giới.

Nhưng, chế tạo và bán võ khí là một trong số các lãnh vực mà Nga luôn đứng hàng đầu thế giới. Người ta có cảm tưởng là Nga quan tâm nhiều hơn trong việc xuất cảng võ khí mà khách hàng lớn hiện nay của Nga là Ấn Độ, Algeria, Trung Quốc và Việt nam.

Việt nam tạo ngạc nhiên, khi quyết định mua hàng tỉ dollars võ khí Nga mỗi năm, từ chiến đấu cơ đến tàu chiến nổi và tàu ngầm. Năm 2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Moscow và đặt mua 6 chiếc tàu ngầm thuộc hạng Kilo, trị giá trên 4 tỉ dollars. Trong trường hợp (có lẽ không xảy ra) có cuộc chiến tàu ngầm giữa Trung Quốc và Ấn Độ mà có sự tham gia của Việt nam và Indonesia, thì các phe tham chiến sẽ sử dụng tàu ngầm cùng một hạng và do Nga chế tạo: đó là tàu ngầm hạng Kilo.

Bộ trưởng Quốc Phòng Nga Anatoly Serdyukov được Tân Hoa Xã (Xinhua) trích dẫn là Nga sẽ trợ giúp Việt nam xây dựng căn cứ tàu ngầm, có thể là tại Vịnh Cam Ranh chăng?

Nga chưa có phát biểu gì rõ rệt về cuộc tranh chấp tại Biển Đông, mặc dầu Nga đã tham dự các Hội Nghị ARF, ADMM+ và EAS trong năm 2010 tại Việt nam. Theo nhận định của Giáo sư Vladimir N. Kolotov, Petersburg State University, thì Nga đã không tranh đua được với Trung Quốc trong Vùng Bắc Á và Đông Nam Á, mặc dầu Nga coi Việt nam là đối tác quan trọng và Biển Đông là vùng chiến lược mà Nga quan tâm [20].

Trong khi đó, Anh Quốc hầu như ‘bỏ quên’ vùng Châu Á Thái Bình Dương, ngoại trừ Trung Quốc, Ấn Độ, Nhựt Bản và Nam Hàn. Từng là cường quốc hàng đầu thế giới trước Thế Chiến Thứ Hai, Anh Quốc ngày nay là cường quốc nguyên tử Châu Âu mà tầm ảnh hưởng hãy còn quan trọng trong liên minh ‘đặc biệt’ với Mỹ và trong tư cách Hội viên Thường Trực Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

Trong Liên Âu, sở dĩ tôi đề cập đến nước Anh, thay vì nước Pháp – vốn là cường quốc cai trị Thuộc địa Đông Dương – là vì Thủ tướng Anh David Cameron đang đề xuất một chánh sách ngoại giao mới nhìn về Viễn Đông. Bằng chứng cụ thể của tầm nhìn mới nầy là Anh Quốc vừa thành lập trên căn bản thường niên, Hội Nghị cấp Bộ trưởng Ngoại Giao và Quốc Phòng với Úc và được gọi tắt là AUKMIN. AUKMIN được mô phỏng theo Hội nghị AUSMIN giữa Mỹ và Úc mà phiên họp tại Melbourne lần thứ 25 hồi tháng 11 năm 2010 đã được chú ý vì Washington và Canberra đều quan tâm đến sự trỗi dậy quân sự của Trung Quốc . Cả hai hội nghị AUSMIN và AUKMIN đều thảo luận về hiểm họa chiến tranh mạng (cyber threat), an ninh ngoại tầng không gian (outer space security) và Trung Quốc. Trong bối cảnh nầy, Bộ trưởng Ngoại Giao William Hague và Bộ Trưởng Quốc Phòng Liam Fox đã bày tỏ quan điểm của London trên Báo Sydney Morning Herald là sự thay đổi cán cân quyền lực tạo ra nhiều cơ hội mà cũng đem lại nhiều sự đe dọa (“Changes in power balances bring opportunities as well as threats”).

Anh Quốc chưa phát biểu rõ rệt lập trường về tranh chấp Biển Đông, nhưng Anh Quốc thường liên kết với Mỹ mỗi khi phải đối phó với nhiều vấn đề nóng của thế giới như Bắc Triều Tiên, Iran và cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan [21].

D. Việt Nam – Hoa Kỳ - Trung Quốc và Biển Đông

(1) Biển Đông: Quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc?

Hoa Kỳ không những là siêu cường thế giới mà còn coi mình là siêu cường Châu Á Thái Bình Dương, nên không có vấn đề ‘rút lui’ khỏi khu vực quan trọng nầy. Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates đã nói tại Singapore và Hà Nội rằng Hoa Kỳ đã hiện diện liên tục tại Châu Á Thái Bình Dương trên 150 năm nay, nên không có viêc Mỹ đã ‘rút lui’và đang ‘trở lại’.

Tuy nhiên, chánh sách Châu Á Thái Bình Dương của Mỹ được qui định và quảng diễn ở nhiều mức độ khác nhau tùy từng giai đoạn và cung cách hành xử của những tác nhân chủ yếu trong vùng như Nhựt Bản, Trung Quốc và Ấn Độ – đặc biệt là khi quyền lợi quốc gia của Mỹ bị thách đố hay đe dọa và Mỹ phải có phản ứng thích hợp.

Tổng Thống Barack Obama phải theo đuổi một chánh sách năng động hơn hai Tổng thống tiền nhiệm Bill Clinton và George W Bush, vì Trung Quốc đã trở thành không những là đối tác mà còn là đối thủ của Washington về mặt kinh tế và quân sự và sẵn sàng xác quyết mạnh bạo để bảo vệ những gì mà Bắc Kinh coi là quyền lợi của mình.

Trung Quốc đã từng áp dụng cung cách hành xử theo nhiều giai đoạn như đã được Ông Đặng Tiểu Bình / Deng Xiaoping đề xuất. Theo Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc nên che đậy hào quang và nằm yên trong bóng tối (‘tao guang yang hui’) để canh tân, kể cả canh tân kỹ thuật và quân đội, trước khi có thể ‘trỗi dậy hòa bình’. Từ năm 1999, Trung Quốc đã sử dụng quyền lực mềm (soft power) và phát triển chánh sách Vươn Ra Toàn Cầu mà ít khi gặp phản ứng tiêu cực.

Nhưng trong vài năm gần đây, khi hải quân và không quân Trung Quốc đã phát triển mạnh, Bắc Kinh bắt đầu xác quyết mạnh bạo lập trường của mình bằng lời nói và hành động. Thí dụ cụ thể là cuộc tranh chấp với Nhựt Bản về chủ quyền quần đảo Senkaku mà Bắc Kinh gọi là Diaoyu / Điếu Ngư tại Biển Đông Trung Hoa, và tranh chấp tại Biển Nam Trung Hoa tức là Biển Đông Việt Nam. Vụ USNS Impeccable, một tàu nghiên cứu hải dương không võ trang của Mỹ bị Hải quân Trung Quốc bao vây hồi tháng 3 năm 2009 tại một địa điểm 75 dặm về phía nam Đảo Hải Nam, là dấu hiệu cảnh báo Trung Quốc không còn do dự trong việc sử dụng sức mạnh võ lực. Hạm đội Nam Hải (kể cả tàu ngầm) của Trung Quốc tại căn cứ Hải Nam là một đe dọa lớn đối với Việt nam và sự tự do lưu thông hàng hải tại Biển Đông.

Tại Bắc Kinh, hồi tháng 3 năm 2010, Phó Ngoại trưởng James B. Steinberg và Giám Đốc Á Châu Vụ của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ Jeffrey A. Bader đã nghe Phụ Tá Ngoại trưởng Trung Quốc Thôi Thiên Khai / Cui Tiankai xác quyết là Trung Quốc coi Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) là ‘quyền lợi cốt lõi’ tương tự như Đài Loan và Tây Tạng. Đây không thể là ý kiến cá nhân mà là một lời tuyên bố có tính toán để thăm dò phản ứng của Mỹ. Nếu có gì còn nghi ngờ về lời tuyên bố nầy thì Hoa Kỳ không thể không có phản ứng khi Ủy Viên Quốc Vụ Đới Bình Quốc / Dai Bingguo (hàm Bộ Trưởng phụ trách ngoại giao của CPC) lập lại điều nầy với Ngoại trưởng Hilary Clinton hồi tháng 5 cũng tại Bắc Kinh, khi Bà Clinton và Bộ Trưởng Ngân Khố Timothy Geithner tham dự Đối Thoại Chiến Lược và Kinh Tế Mỹ-Trung (US/China Strategic and Economic Dialogue). Bà Clinton nói là Bà đã phản ứng ngay và không đồng ý với xác quyết nầy của Trung Quốc. Bà Clinton đã xác nhận điều nầy trong cuộc phỏng vấn tại Melbourne với ký giả Greg Sheridan, chủ bút vấn đề quốc ngoại của nhựt báo The Australian [22].

Sau phản ứng tại chỗ của Bà Hilary Clinton, Hoa Kỳ đã công bố lập trường rõ rệt về Biển Đông qua bài diễn văn của Bộ trưởng Quốc Phòng Robert Gates tại Hội Nghị thường niên của International Institute for Strategic Studies (IISS) tại Singapore ngày 05-06-2010. Ông Gates coi Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) là vùng quan ngại mỗi ngày một gia tăng và xác định chánh sách của Mỹ là (a) duy trì ổn định, tự do lưu thông hàng hải, tự do phát triển kinh tế là thiết yếu; (b) Hoa Kỳ không ủng hộ bất cứ ai trong số các quốc gia tranh chấp chủ quyền, nhưng Hoa Kỳ chống đối việc sử dụng võ lực và hành động cản trở tự do lưu thông hàng hải; và (c) tất cả quốc gia liên hệ phải hợp tác giải quyết những khác biệt bằng nỗ lực hòa bình và đa phương phù hợp với luật quốc tế thông dụng [23].

Quan điểm nói trên được lập lại và tạo sự chú ý đặc biệt, không phải vì nội dung phát biểu mà vì nơi chốn và tư cách người phát biểu: Ngoại trưởng Hilary Clinton tại Hội Nghị ARF ở Hà Nội. Thái độ giận dữ của Ngoại trưởng Dương Khiết Trì có thể là một phản ứng thật, nếu ông đã tin tưởng vào sự vận động của Đại Sứ Quán Trung Quốc tại Washington, hoặc có thể là phản ứng giả tạo để dằn mặt răn đe các thành viên Asean mà ông gọi là ‘những quốc gia nhỏ’. Theo tiết lộ của nhựt báo Washington Post, Đại sứ quán Trung Quốc tại Mỹ tin rằng họ thành công trong việc vận động Bộ Ngoại Giao Mỹ không nêu vấn đề Biển Đông tại Hội Nghị ARF. Điều nầy có thể giải thích tại sao Trung Quốc ngạc nhiên với phát biểu của Bà Hilary Clinton [24].

Điều không thuận lợi cho Việt nam về mặt nỗ lực quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông là sau Hội Nghị ARF, Mỹ cũng như Trung Quốc có vẻ như không xác quyết lập trường đối nghịch nữa. Bề ngoài, viên chức chánh phủ Bắc Kinh không lập lại nhóm chữ ‘Biển Đông là quyền lợi cốt lõi’, nhưng điều đó không hẳn là Trung Quốc đã thay đổi chớ đừng nói chi đến việc từ bỏ lập trường nầy. Đáp lại, Hoa Kỳ có vẻ như đi lui một bước và giải thích rằng Hoa Kỳ không có ý định đứng ra ‘dàn xếp’ (facilitate) cuộc thảo luận đa phương như Bà Clinton đã ám chỉ tại Hội Nghị ARF. Tiến sĩ Kurt Campbell, Phụ tá Ngoại trưởng phụ trách Châu Á Thái Bình Dương Sự Vụ tại Bộ Ngoại Giao Mỹ, nói rằng phát biểu của Bà Clinton tại Hội Nghị ARF không nhằm vào Trung Quốc mà cũng không nhằm ủng hộ bất cứ ai trong vấn đề chủ quyền tại Biển Đông. Ông Campbell tin rằng Mỹ không có vai trò trực tiếp thích hợp trong vấn đề Biển Đông [25].

Về mặt quyền lợi của Mỹ, không ai có thể so sánh Việt nam với Nhựt Bản, nhưng, theo ý tôi, thái độ của Mỹ sau Hội nghị ARF cho thấy Mỹ do dự trong vấn đề Biển Đông – một thái độ khác hẳn với cuộc tranh chấp giữa Bắc Kinh và Tokyo về quần đảo Senkaku / Điếu Ngư.

Khi họp báo chung với Ông Phạm Gia Khiêm ngày 30 tháng 10 năm 2010, Bà Clinton đã nói dứt khoát rằng, tuy Mỹ không ủng hộ ai về mặt chủ quyền, Mỹ coi vấn đề Senkaku là một phần nghĩa vụ hiệp ước hổ tương và nghĩa vụ bảo vệ Nhựt Bản và Mỹ sẵn sàng thu xếp một hội nghị tay ba Trung Quốc - Nhựt Bản -  Hoa Kỳ để thảo luận vấn đề nầy [26].

Thất bại đầu tiên của Việt Nam sau Hội Nghị ARF là vấn đề Biển Đông bị nhận chìm tại Hội Nghị Lãnh Đạo Mỹ-Asean ở New York ngày 24 tháng 9 năm 2010, do Ông Obama và Ông Nguyễn Minh Triết đồng chủ tọa. Tuy Việt nam là chủ tịch Asean, nhưng hội nghị lại do Philippines phối hợp và tuy Tổng thống Yudhoyono không tham dự, nhưng ảnh hưởng của Indonesia thể hiện rõ, vì Bản Thông Cáo Chung của Hội Nghị đặt nặng các vấn đề thuộc quyền lực mềm như hợp tác kinh tế, y tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa và giáo dục mà Jakarta đã đề nghị. Vấn đề Biển Đông không được nhắc đến trong Bản Thông Cáo Chung, nếu quả thật vấn đề nầy đã được thảo luận. Thông Cáo Chung gồm 25 đoạn, và chỉ trong đoạn thứ 18 rất ngắn ngủi, hội nghị xác nhận, một cách tổng quát, hòa bình và ổn định khu vực, tự do lưu thông hàng hải theo Luật Biển Liên Hiệp Quốc (UNLOS) và giải quyết ôn hòa những dị biệt [27].

Vào cuối năm 2010, Trung Quốc đã thay thế Nhựt Bản khi trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì thế giới trên căn bản tầm vóc tổng sản lượng nội địa GDP. Theo tài liệu thống kê Mỹ (US Census – Foreign Trade Statistics), kim ngạch thương mại hai chiều giữa Mỹ và Trung Quốc trong năm 2010 trị giá 416 tỉ dollars so với 18.3 tỉ dollars với Việt nam.

Mặc dầu trong cả hai trường hợp, Mỹ đều bị nhập siêu, tức là cán cân mậu dịch thất thu 252 tỉ dollars đối với Trung Quốc và 11.3 tỉ dollars đối với Việt nam, những rõ ràng là quyền lợi kinh tế của Mỹ đối với Việt nam không thể so sánh được với Trung Quốc mà Bà Clinton gọi là ‘banker’ của Úc và Hoa Kỳ, theo tiết lộ của Wikileaks.

Trung Quốc đã đồng ý nối lại thảo luận quốc phòng ở cấp bộ trưởng, sau khi đã tạm ngưng, vì Mỹ bán võ khí cho Đài Loan trị giá 6.4 tỉ dollars. Ngày 10-01-2011, Ông Robert Gates đến Bắc Kinh để gặp gỡ Ông Lương Quang Liệt, Ông Dương Khiết Trì, Ông Hồ Cẩm Đào và Ông Tập Cận Bình một phần để tái lập đối thoại cấp cao trên căn bản dài hạn và phần khác dọn đường cho cuộc hội kiến Obama-Hồ Cẩm Đào tại Washington vào ngày 19 tháng Giêng.

Mỹ quan tâm đến đối thoại quân sự cấp cao để tránh sự hiểu lầm hoặc tính toán sai lầm có thể dẫn đến va chạm như trường hợp USNS Impeccable. Khi Ông Robert Gates có mặt tại Bắc Kinh, một photo phi cơ thuộc loại ‘tàng hình’ (stealth aircraft) tối tân của Trung Quốc được quân đội Trung Quốc (PLA) phổ biến. Sự kiện bất ngờ nầy tạo ra cuộc tranh luận về ý định thật sự của Trung Quốc và liên hệ giữa giới lãnh đạo dân sự của CPC và các tướng lãnh PLA. Tình báo Mỹ có thể đã đánh giá sai lầm, nếu quả thật Bắc Kinh có khả năng chế tạo loại phi cơ tối tân mà cho đến nay, chỉ có Hoa Kỳ có thể sản xuất và sử dụng.

Mỹ còn quan tâm đến khả năng của Trung Quốc trong việc chế tạo hỏa tiển có thể phá hủy vệ tinh nhân tạo trên thượng tầng không gian và đạn đạo có khả năng hủy diệt hàng không mẫu hạm ở tầm xa 2 900 cây số. Hồi năm 2007, Trung Quốc đã bắn thử nghiệm thành công một phi đạn từ mặt đất hủy diệt một vệ tinh nhân tạo của Trung Quốc ở độ cao 850 cây số, khiến Mỹ phải thực hiện thử nghiệm tương tự trong năm 2008 - sau 23 năm tạm ngưng chương trình - và hủy diệt được một vệ tinh của Mỹ bằng hỏa tiển bắn lên từ một chiến hạm Mỹ ở Thái Bình Dương.

Khả năng nói trên của Trung Quốc là đe dọa lớn cho hệ thống vệ tinh truyền thông của Mỹ ở ngoại tầng không gian và hạm đội của Mỹ tại Biển Đông và Tây Thái Bình Dương [28].

Ngoài vấn đề an ninh quốc phòng, bang giao song phương Mỹ-Trung còn bị vướng mắc bởi vấn đề kinh tế, tài chánh như trị giá đồng yuan của Trung Quốc, việc bảo vệ tác quyền trí tuệ của Mỹ và tất nhiên là nhân quyền.

Vào cuối nhiệm kỳ, Ông Hồ Cẩm Đào chỉ còn cơ hội sau cùng để được đón tiếp trọng thể tại Tòa Bạch Ốc như là một quốc khách, vì nhu cầu chánh trị quốc nội tại Trung Quốc, và vì ông muốn lưu lại một di sản đối ngoại thành công. Bởi vậy, tại Washington, Ông Hồ Cẩm Đào cư xử khéo léo như một chính khách với lời lẽ ôn hòa mà giới quan sát gọi là ‘dịu giọng’ trước thái độ gọi là ‘cứng rắn’ của Mỹ. Theo ý tôi, Ông Obama và Ông Hồ Cẩm Đào đều muốn chuyến công du thành công, nên sẵn sàng tương nhượng bề ngoài trong khi vẫn bảo vệ mạnh mẽ quyền lợi quốc gia riêng của mỗi nước. Trong bối cảnh nầy, Biển Đông đối với Mỹ là một quan tâm thứ yếu [29].

(2) Bang Giao Việt-Mỹ: Từ Madeleine Albright đến Hilary Clinton

Trong bang giao với Hà Nội, Tổng thống Bill Clinton (Đảng Dân Chủ) đóng vai trò quan trọng, vì chính ông đã bãi bỏ lệnh cấm vận cộng sản Việt nam hồi năm 1994 và thiết lập bang giao song phương trong năm 1995. Vào cuối nhiệm kỳ trong năm 2000, Ông Bà Clinton đã đến Hà Nội và Sài Gòn trong chuyến công du đầu tiên của một tổng thống Mỹ tại Việt nam sau năm 1975.

Tuy nhiên, chánh quyền Đảng Cộng Hòa Mỹ tại Washington không phải là không tạo những bước cụ thể để phát triển quan hệ nầy. Hồi năm 1991, Tổng thống George H. Bush đã chuyển đến Hà Nội một ‘lộ trình’ nhằm bình thường hóa từng giai đoạn bang giao giữa hai nước mà khởi đầu là cải thiện hợp tác trong vấn đề quân nhân Mỹ mất tích trong thời chiến. Trong nhiệm kỳ thứ nhì, Tổng thống George W. Bush đã thăm viếng Hà Nội và Sài Gòn hồi năm 2006 nhân dịp Hội Nghị Thượng Đỉnh APEC. Ông George W. Bush cũng đã tiếp đón Ông Nguyễn Minh Triết và Ông Nguyễn Tấn Dũng tại Washington. Không có sự khác biệt quan trọng gì giữa chánh quyền Dân Chủ và Cộng Hòa trong vấn đề bang giao với Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Hoa Kỳ và Việt nam vừa kỷ niệm 15 năm quan hệ ngoại giao, nên tôi chọn hai mốc điểm đánh dấu bởi chuyến thăm viếng Việt nam của hai Bà Ngoại Trưởng Madeleine Albright và Hilary Clinton để phác họa diễn tiến giữa hai nước trong quãng thời gian ấy [30].

Ngoai trưởng Albright chính thức công du Việt nam lần đầu tiên năm 1997 và trở lại năm 1999 để khánh thành Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Sài Gòn. Còn Bà Clinton đến Việt nam hồi tháng 7 và cuối tháng 10 năm 2010 để tham dự Hội Nghị ARF và EAS, khi sức mạnh quân sự của Trung Quốc và vấn đề Biển Đông gây nên căng thẳng trong vùng.

Tuy cả hai đều là ngoại trưởng trong chánh quyền Đảng Dân Chủ, nhưng thật ra nền móng phát triển nhanh chóng đã được xây dựng trong hai nhiệm kỳ Tổng thống George W Bush của Đảng Cộng Hòa. Hai nước đã bắt đầu quan hệ về chánh trị và an ninh từ năm 2002, dẫn đến hội kiến thượng đỉnh hầu như mỗi năm từ năm 2005, khi Ông Phan Văn Khải là thủ tướng Việt nam đầu tiên sau năm 1975, công du Hoa Kỳ.

Năm 2006 đánh dấu bước sau cùng trong tiến trình bình thường hóa thương mại khi Việt nam được công nhận tư cách ‘quan hệ thương mại bình thường’ với Mỹ. Vào tháng 11, Tổng thống George W Bush đến Việt nam để tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh APEC và  thăm viếng Hà Nội và Sài Gòn. Mỹ xóa tên Việt nam khỏi danh sách các nước được quan tâm về mặt nhân quyền và ủng hộ Việt nam gia nhập Tổ chức WTO. Việt nam trở thành hội viên WTO vào đầu năm 2007.

Năm 2007, Ông Nguyễn Minh Triết trở thành chủ tịch nước Việt nam đầu tiên đến thăm Hoa Kỳ, nhưng quan trọng hơn có lẽ là chuyến công du của Ông Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 6 năm 2008.

Việt nam và Hoa Kỳ đều phát biểu ước muốn cải thiện bang giao, nhưng trong thực tế, Hà Nội vẫn e dè chiến lược dài hạn của Mỹ mà họ gọi là ‘diễn tiến hòa bình’ (peaceful evolution). Hà Nội tin rằng sự ủng hộ từ bên ngoài đã góp phần vào sự sụp đổ của một số chế độ cộng sản hoặc cựu cộng sản dưới hình thức diễn tiến hòa bình hay dưới hình thức ‘cách mạng màu’ (colour revolution) như Rose Revolution tại Georgia năm 2003, Orange Revolution tại Ukraine năm 2004 và Tulip Revolution tại Kyrgyzstan năm 2005.

Bởi vậy, trong Bản Tuyên Bố Chung giữa Tổng Thống Mỹ và Thủ Tướng Việt nam ngày 25 tháng 6 năm 2008, sau khi hai lãnh tụ ca ngợi thành quả của công dân Mỹ gốc Việt và ghi nhận đóng góp của họ trong quan hệ song phương Việt-Mỹ, Tổng thống Bush lập lại rằng chánh phủ Mỹ ủng hộ chủ quyền quốc gia, an ninh và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt nam [31].

Điều nầy có nghĩa gì khi tổng thống Mỹ liên kết thành quả và đóng góp của cộng đồng người Mỹ gốc Việt với sự tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt nam?

Trong văn cảnh nầy, tôi nghĩ là Mỹ muốn trấn an Hà Nội rằng Mỹ không chủ trương hoặc ủng hộ thế lực ngoại nhập từ Mỹ nhằm lật đổ chánh quyền cộng sản. Đây là bản tuyên bố chung khá dài, bao gồm nhiều điểm từ quan hệ kinh tế, thương mại đến việc thảo luận song phương về chánh trị, quân sự và các vấn đề chiến lược cũng như vị thế của Việt nam tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Nếu tổng thống Mỹ muốn gởi một thông điệp đến Trung Quốc, như Hà Nội có lẽ cũng hi vọng, thì lời xác nhận nầy phải được ghi ở một đoạn khác trong bản văn. Vả lại, chúng ta phải tự hỏi tổng thống Mỹ có nhu cầu gì để làm việc nầy?

Tôi cũng nghĩ rằng đây là một phát biểu chánh trị mà Việt nam mong nhìn thấy, chớ thật ra về mặt pháp lý, điều nầy không cần thiết, vì Mỹ – cũng như Úc và có thể tại các nước Liên Âu – có luật lệ cấm đoán công dân tổ chức tham gia kháng chiến võ trang tại một quốc gia mà Mỹ có liên hệ ngoại giao. Thí dụ cụ thể là trường hợp Tướng Vang Pao bị điều tra, bắt giữ và truy tố tại California (nhưng sau đó được bãi bỏ) với cáo buộc mưu toan mua võ khí trị giá trên 9 triệu dollars để lật đổ chánh quyền cộng sản Lào [32]

Trong bang giao song phuong, Mỹ áp lực Việt nam tôn trọng nhân quyền và khuyến khích dân chủ hóa. Những cuộc tranh đấu bất bạo động được Mỹ ủng hộ và lời xác nhận nói trên của Ông Bush không liên hệ gì đến một chính biến phát xuất và xảy ra trong nước để lật đổ chế độ độc tài độc đảng. Các chánh phủ dân chủ, kể cả Mỹ, lúc nào cũng hoan nghênh và thừa nhận những thay đổi như vậy, theo các công ước quốc tế về quan hệ ngoại giao.

Từ sau chuyến công du 2008 của Ông Nguyễn Tấn Dũng, quan hệ song phuong Mỹ-Việt tiếp tục được phát triển nhanh, khi Tổng thống Barack Obama cầm quyền với một tầm nhìn mới về Châu Á Thái Bình Dương đến mức độ mà trong cuộc họp báo chung ngày 30-07-2010 với Ông Phạm Gia Khiêm, Bà Hilary Clinton có thể nói rằng hai nước có ý định xây dựng ‘hợp tác chiến lược – strategic partnership’ và mở rộng thêm hợp tác kinh tế, chẳng hạn như trong tổ chức đang thành hình mà Mỹ, Úc và Việt nam tham dự là Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương – Trans Pacific Partnership (TPP). Ông Nguyễn Minh Triết cũng bày tỏ hi vọng nâng cao quan hệ nầy khi gặp Tổng Thống Obama trong phiên họp với Lãnh đạo Asean tại New York. Tại Washington, Đại sứ Lê Công Phụng nói rằng hai nước nhắm đến một quan hệ chiến lược [33].

Ông Nguyễn Tấn Dũng trở lại Washington hồi tháng 4 năm 2010 để tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh về An Toàn Năng Lượng Hạt Nhân và nhân dịp nầy, hai nước đã ký một Bản Ghi Nhớ MOU về hợp tác nguyên tử năng tương tự như thỏa hiệp giữa Mỹ và Ấn Độ. Theo Báo Times of India, diễn tiến nầy làm Trung Quốc lo ngại vì Bắc Kinh cũng muốn thương thuyết với Hà Nội về việc nầy [34].

Trong và sau năm 2010, các viên chức Mỹ tại Bộ Quốc Phòng và Ngoại Giao thường nêu ra thời cơ thuận lợi và các lý do mà Mỹ và Việt nam có thể tiến lại gần nhau hơn, nhưng trong thực tế, quan hệ chiến lược nầy chỉ có thể đạt được, nếu Hà Nội giảm bớt được sợ hãi đối với Trung Quốc.

Sự sở hãi nầy thể hiện, khi Việt nam có những quyết định không thuần nhứt. Chẳng hạn như hai nước đã đồng ý đối thoại quốc phòng ở cấp thứ trưởng và phiên họp đầu tiên đã xảy ra giữa Ông Robert Scher và Ông Nguyễn Chí Vịnh hồi giữa tháng 8 năm 2010. Thế nhưng, Hà Nội lại không dám tham dự cuộc diễn tập “Hổ Mang Vàng – Cobra Gold’với Mỹ tại Thái Lan, ngay cả chỉ với tư cách quan sát viên mà trước kia từ năm 2003 Việt Nam đã làm, vì lý do chính sách ‘Ba Không’ [35].

Trong bang giao quốc tế nói chung và trong vấn đề tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, mỗi quốc gia đều theo đuổi quyền lợi riêng của mình. Việt nam cần nhận dạng trong những quyền lợi quốc gia riêng biệt ấy, những điểm tương đồng để phát triển lập trường chung nhằm đối phó với hiểm họa Trung Quốc.

Đây không phải là việc dễ làm, nhưng cũng không phải là điều không thể thực hiện được, vì trong thế giới đa cực, Việt nam có thể tìm được đối trọng tại Washington, New Delhi, Moscow, và thậm chí đến cả London, Paris, Tokyo và Canberra [36].

(Sydney, ngày 22-02-2011)

Ghi Chú:

* Chế độ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCV) thành lập từ sau năm 1975, sẽ chịu trách nhiệm trước lịch sử cho sự tồn vong của đất nước trong thời gian ĐCV độc quyền cai trị. Tổ quốc và dân tộc Việt Nam hằng cửu và vượt ngoài giới hạn của một thể chế chính trị. Bài nầy không thảo luận sự tồn tại của ĐCV hoặc tính chính danh của chế độ theo những tiêu chuẩn dân chủ và quyền dân tộc tự quyết mà coi Việt Nam dưới chế độ độc đảng cộng sản cũng là một chủ thể của luật quốc tế có bang giao song phương và đa phương với tư cách là thành viên của Liên Hiệp Quốc.

** Tổng hợp và cập nhựt (a) các bài thuyết trình tại Sydney ngày 23-10-2010 (Tâm Đàm do Đảng Vì Dân tổ chức), tại Adelaide ngày 31-10-2010 (Tâm Đàm do Đảng Vì Dân tổ chức), tại Sydney ngày 14-11-2010 (Hội thảo do Đảng Tân Đại Việt tổ chức) và tại Melbourne ngày 28-12-2010 (Đại Hội Lần Thứ 18 của Tổng Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Úc Châu);

(b) cũng như những bài phỏng vấn trên Đài Quốc Tế Pháp RFI, Paris, với Đức Tâm ngày 11-01-2011 ‘ Vì Sao Mỹ-Trung Nối Lại Đối Thoại Quân Sự vào lú́c nầy?, ngày 01-01-2011 ‘Những Thách Thức đối với Indonesia khi làm Chủ tịch Asean 2011’, ngày 25-11-2010 ‘Úc Cung Cấp Đất Hiếm cho Nhật để phá thế độc quyền của Trung Quốc’, ngày 10-10-2010 ‘Asean Lùi Buớc Trước Trung Quốc tại Hội Nghi ADMM + ?, và ngày 05-09-2010 ‘Úc có khả năng làm trung gian giải quyết tranh chấp tại Biển Đông?’ – với Thanh Phương ngày 16-02-2011 ‘Trung Quốc đối phó với Mỹ bằng cuộc chiến tranh không cân xứng’, ngày 25-12-2010 ‘Tranh Chấp Chủ Quyền Biển Đảo trở nên gay gắt hơn’và ngày 03-01-2010 ‘Việt Nam cần tranh thủ vị thế Chủ tịch Asean để thúc đẩy giải quyết hồ sơ Biển Đông’ -  với Trọng Nghĩa ngày 13-10-2010 ‘Việt Nam Thúc Đẩy Quan Hệ Quốc Phòng với Úc’, ngày 18-03-2010 ‘ Tám Nước APEC Khai Mở Đàm Phán về vùng Tự Do Mậu Dịch  Xuyên Thái Bình Dương’ và ngày 02-02-2010 ‘Tổng Thống Mỹ Barack Obama xác định thêm chiến lược Châu Á với chuyến công du Indonesia và Úc’ – và với Tú Anh ngày 11-11-2010 ‘Tạp Chí Tiêu Điểm: Từ Ấn Độ đến Úc, Hoa Kỳ bày thế cờ Châu Á Thái Bình Dương’, ngày 21-10-2010 ‘ Tạp Chí Tiêu Điểm: Ấn Độ ‘hướng Đông’ để phá gọng kềm Trung Quốc’, và ngày 05-04-2010 ‘Việt Nam bị thiệt thòi vì nằm ở hạ nguồn Mêkông’; và

(c) Đài Á Châu Tự Do RFA,Washington DC, với Mặc Lâm ngày 22 và 23-03-2010 ‘Đàm Phán Hiệp Định đối tác xuyên Thái Bình Dương kết thúc tốt đẹp’.

[1] Phân tách chi tiết về Đại Hội ĐCS lần XI và tài liệu đọc thêm:                                 Carlyle A. Thayer - Thayer Consultancy: Background Briefing: ‘Vietnam’s New Party Leadership: First Take’, 19 January  2010; The Wall Street Journal, James Hookway: ‘Vietnamese Premier is poised for new term’, January 20, 2010;  The Economist, London: ‘Vietnam After its congress – Picking up after the party’, 25 January 2010;         Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam (www.cpv.org.vn): ‘Phân công các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị tham gia Ban Bí Thư Trung Ương Khóa XI, ngày 09-02-2011;  VOA Tiếng Việt: Thành Phần Ban Bí Thư Trung Ương Khóa XI được công bố, ngày 09-02-2011; BBC Tiếng Việt: Nhân sự Ban Bí Thư Trung Ương Đảng, ngày 09-02-2011

[2] Wikipedia Tiếng Việt: Ông Nguyễn Mạnh Cầm được bổ nhiệm Bộ Trưởng Ngoại Giao năm 1991, khi ông chỉ là Ủy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương ĐCV. Đến năm 1994, ông mới vào được Bộ Chính Trị và từ năm 1997, kiêm nhiệm chức vụ Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế đối ngoại đến năm 2002. Cựu Ngoại trưởng Úc, Tiến sĩ Gareth Evans đánh giá Ông Nguyễn Mạnh Cầm là một ‘bộ trưởng ngoại giao yếu’. (Lưu Tường Quang [2009] Journey from Vietnam: A Vietnamese-Australian’s Reflections, The Sydney Institute’s Sydney Papers Online No.1.)

Thật ra, kể từ năm 1965 đến nay, chỉ có Ông Nguyễn Duy Trinh và Ông Phạm Gia Khiêm là có chân trong Bộ Chính Trị, khi được cử làm Bộ Trưởng Ngoại Giao. Ông Nguyễn Duy Trinh là Ủy viên Bộ Chính Trị từ năm 1956 đến năm 1982 và ông giữ chức Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại Giao từ năm 1965 đến năm 1980. Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đắc cử Ủy viên Bộ Chính Trị hồi tháng 4 năm 2006 và được cử kiêm nhiệm Bộ Trưởng Ngoại Giao vào ngày 28  tháng 6 năm 2006. Ông Nguyễn Dy Niên có lẽ là người duy nhứt chỉ làm Ủy viên Trung Ương trong suốt thời gian làm Bộ Trưởng Ngoại Giao từ tháng 2 năm 2000 đến tháng 6 năm 2006.

Nếu Ông Phạm Bình Minh, Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại Giao, kế nhiệm Ông Phạm Gia Khiêm, thì ông sẽ theo gót người cha là Ông Nguyễn Cơ Thạch (mà tên khai sinh là Phạm Văn Cường). Ông Nguyễn Cơ Thạch được bổ nhiệm Bộ Trưởng Ngoại Giao hồi tháng 2 năm 1980 khi ông chỉ là Ủy Viên Trung Ương. Đến năm 1982, Ông Nguyễn Cơ Thạch mới đắc cử Ủy Viên dự khuyết Bộ Chính Trị và trở thành Ủy Viên chính thức từ năm 1986 đến năm 1991, khi ông rời khỏi Bộ Ngoại Giao. Ông Phạm Bình Minh (sinh năm 1959 và gia nhập ngành ngoại giao năm 1981 khi Ông Nguyễn Cơ Thạch làm ngoại trưởng) không có kinh nghiệm nào khác bên ngoài ngành ngoại giao, đắc cử Ủy viên dự khuyết Ban Chấp Hành Trung Ương, hồi tháng 4 năm 2006 (Khóa X) và trở thành Ủy viên chính thức từ tháng 1 năm 2009. Tại Đại Hội Đảng hồi tháng 1 năm 2011, ông tái đắc cử Ủy Viên Trung Ương Khóa XI.

[3] Lưu Tường Quang (2009), Hà Nội Trong Gọng Kìm Bắc Kinh: Chiến Lược Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây của Trung Cộng, Đặc San Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai & Cửu Long, số 3, trang 359 và (2010) Bước Vào Thập Niên 2 của Thế Kỷ 21: Việt Nam Trước Những Thử Thách Cũ và Mới, VPS Australia e-News số 1 - và Vietnam Review www.vietnamreview.com

[4] Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt nam (www.cpv.org.vn), trích dẫn Thông Tấn Xã Việt nam: “Tổng Bí Thư, Chủ Tịch Nước CHND Trung Hoa Hồ Cẩm Đào tiếp Đặc phái viên Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam”, ngày 18-02-2011.

[5] Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 26-08-2010; Global Times (www.globaltimes.cn ) 26 August 2010

[6] Michael Richardson: ‘China’s Claims Make Waves’, The Japan Times Online, 05 August 2010

[7] The Jamestown Foundation, Ian Storey: ‘China’s Mis-steps in South East Asia: Less Charm, More Offensive’, December 17, 2010

[8] The New York Times, Andrew Jacobs: “China Warns U.S. to stay out of disputed islands’, July 26, 2010; IPS, Marwaan Macan-Markar: Politics – US/China Tensions Loom in South China Sea Dispute, 27 July 2010 (quoting Deputy spokesman Thani Thongphakdi of the Thai Ministry of Foreign Affairs); Washington Post, John Pomfret: ‘China’s billions reap rewards in Cambodia’, November 20, 2010; BBC Tiếng Việt, Trung Quốc Cảnh Báo Asean về Biển Đông, 25-01-2011

[9] Asean Secretariat: Indonesia Unveils Theme and Logo for Asean Chairmanship 2011, 2 November 2010; Sydney Morning Herald, Tom Allard in Jakarta: “Obama reinforces links with Indonesia”, 10 November 2010; Asean Secretariat: Indonesia Can Take Asean to a Greater Height in 2011: Asean Sec.Gen, 20 December 2010.

[10] The Interpreter, Lowy Institute for International Policy, Greta Nabbs-Keller:                “Indonesia as Asean Chair: A Test of Democracy”, 29 June 2010; The Jakarta Post, Erwida Maulia: “Minister Vows Strong RI Leadership of Asean in 2011”, 18 December 2010; VOA Tiếng Việt, Indonesia Muốn Đưa Nhân Quyền lên hàng ưu tiên của Asean, ngày 07-01-2011

[11] Bloomberg - Daniel Ten Late and Susan Li: “Indonesia Rejects China stance that U.S. Stay out of Local Waters Dispute’, September 22, 2010; The Jakarta Post, Lilian Budidianto: “RI sets to play key role in S. China Sea row”, 22 September 2010; People’s Daily online: “China-Asean Foreign Ministers Meeting held in Kunming”, 26 January 2011; VOANews.com: “Asean Ministers Meet with Chinese Counterpart in Kunming”, January 25, 2011.

[12] Australian Government, Department of Defence, ‘Defence White Paper 2009 – Defending Australia in the Asia Pacific Century: Force 2030’

[13] The Age, Melbourne, ngày 06 December 2010, Daniel Flitton: ‘Explosive Wiki Rudd Cable’ (Rudd: to use force against China, ‘if every thing goes wrong’);                                                The Australian, Sydney, ngày 05 December 2010, Paul Maley: ‘Kevin Rudd’s plan to contain Beijing’

[14] The Australian, Sydney, ngày 01 November 2010, Brendan Nicholson ‘Rudd’s Third Way’ (neither conflict nor kowtow) - ABC Radio, Sydney, PM Program, 01 November 2010 – Foreign Minister Kevin Rudd interviewed by Alexandra Kirk.

[15] China Daily 17 August 2010, Ai Yang: ‘Sino-Aussie Ties to Improve After Election’ - Quote: “Foreign Minister Stephen Smith was seen as siding with China on the South China Sea issue, which the United States has wanted to internationalize. Any tensions should be ‘resolved bilaterally’, the foreign minister was quoted as saying by Radio Australia”.

[16] Australian Government, Department of Defence, Stephen Smith, MP, Minister for Defence: Inaugural Asean-Plus Defence Minister Meeting (Media Release: Min.11/10) dated 10 October 2010;                                                                                                          AFP, 11 October 2010: ‘Australia and Vietnam to boost military ties’ –                                   AAP, 12 October 2010: ‘ Australia Urges Diplomacy in Maritime Dispute’ – Stephen Smith: “In our region and beyond there are a range of unresolved territorial disputes, including maritime disputes. Where these occur, Australia wants to see these issues resolved amicably and peacefully between the parties concerned in accordance with international law, and in a way which ensures regional stability.”

[17] Australian Department of Foreign Affairs and Trade (DFAT): Australia -Viet Nam Comprehensive Partnership, 07 September 2009 (www.dfat.gov.au/.../vietnam/comprehensive_partnership_vietnam.html); VNA (Thông Tấn Xã Việt Nam): Vietnam & Australia look to Comprehensive Partnership, 07 September 2009.

[18] South Asia Analysis Group - C.S.Kuppuswamy, ‘India’s Look East Policy – A Review’ (Paper No. 3663) 12 February 2010; D.S.Raian: ‘Is China Wary of India’s Look East Policy’? (Paper 2549) 14 January 2008; Institute of South Asia Studies (ISAS), National University of Singapore, S.D. Muni: ‘India’s Look East Policy: ‘The Strategic Dimension’; The Tribune, Chandigarh, India (online edition), G. Parthasarathy: ‘Raising Chinese Assertiveness – A Consequence of waning US power’, 13 November 2010; BBC Tiếng Việt: ‘Trung Quốc Cảnh Báo Asean về Biển Đông’, ngày 25-01-2011; The Hindu, Ananth Krishnan: “China’s Communist Party see India as part of U.S. ‘containment’ strategy”, ngày 12-02-2011, trích dẫn bài báo của Từ Vận Hồng / Xu Yunhong, Ủy Viên dự khuyết Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Trung Quốc được phổ biến trên Tạp chí Cầu Thị (Qiushi, Seek Truth): “What is especially unbearable is how the U.S. blatantly encourages China's neighbouring countries to go against China. Countries like Japan, India, Vietnam, Australia, the Philippines, Indonesia, and Korea are trying to join the anti-China group because they either had a war or another conflict of interest with China.”; RFI Tiếng Việt: Bắc Kinh cảnh báo nguy cơ các láng giềng liên kết với Mỹ chống Trung Quốc, ngày 13-02-2011.

[19] D.S. Raian – tài liệu đã dẫn; Bộ Ngoại Giao Việt Nam trích dẫn Thông Tấn Xã Việt nam / VNA: India’s Look East Policy looks towards Vietnam, 26 January 2010; G. Parthasarathy, The Tribune, tài liệu đã dẫn.

[20] Brookings Northeast Asia Commentary (No.18), Prof Vladimir N. Kolotov: “Changing Calculations in East Asia” (April 2008); Ria Novosti: “Vietnam joins group of Russia’s largest arms buyers – Expert”, 10 Feruary 2010; Xinhua: “Russia to help Vietnam to build submarime base: Minister”, 25 March 2010.

[21] William Hague & Liam Fox, Sydney Morning Herald: “Stronger Alliance Required to meet modern challenges”, 18 January 2011; BBC News, Nick Bryant: “Ending the diplomatic neglect”, 20 January 2011; The Australian, Ben Peckham: “Top level ministerial talks with UK to become an annual event”, 18 January 2011; Greg Sheridan: “Partnership reflects Australia’s new relevance”; Greg Sheridan: “Renewed Intimacy will reap benefits”, 20 January 2011.

[22] Washington Post, John Pomfret: “Beijing Claims ‘indisputable sovereignty’ over South China Sea”, July 31, 2010;                                                                                           U S Department of State, Remarks by Secretary Clinton - Interview by Greg Sheridan of ‘The Australian’, Melbourne, 08 November 2010. Hilary Clinton: “And when China [Dai Bingguo] first told us at a meeting of the Strategic and Economic Dialogue that they viewed the South China Sea as a core interest, I immediately responded and said we don’t agree with that.”

[23] US Department of Defense, Remarks as delivered by Secretary of Defense Robert M. Gates, Shangri-La Hotel, Singapore, June 05, 2010. Gates: “In this respect, the South China Sea is an area of growing concern.  This sea is not only vital to those directly bordering it, but to all nations with economic and security interests in Asia.  Our policy is clear:  it is essential that stability, freedom of navigation, and free and unhindered economic development be maintained.  We do not take sides on any competing sovereignty claims, but we do oppose the use of force and actions that hinder freedom of navigation.  We object to any effort to intimidate U.S. corporations or those of any nation engaged in legitimate economic activity.  All parties must work together to resolve differences through peaceful, multilateral efforts consistent with customary international law.  The 2002 Declaration of Conduct was an important step in this direction, and we hope that concrete implementation of this agreement will continue.”

[24] Washington Post, John Pomfret: “Beijing Claims ‘indisputable sovereignty’ over South China Sea”, July 31 2010

[25] The Jamestown Foundation, Ian Storey: ‘China’s Mis-steps in South East Asia: Less Charm More Offensive’ December 17, 2010; The New York Times, Mark Landler: ‘Offering to aid talks, U.S. challenges China on disputed islands’, July 23, 2010; South Asia Analysis Group, Bhaskar Roy: ‘China Rethink: One Step Backward’ (Paper No.4232) 14 December 2010; China Daily (US Edition) – View – Da Wei: “A Clear Signal of ‘Core Interest’ to the World”, August 02, 2010

[26] U.S.Department of State, Remarks by Secretary Clinton with Vietnamese Foreign Minister Phạm Gia Khiêm, Hanoi, October 30, 2010 – Secretary Clinton: “Well, first, with respect to the Senkaku Islands, the United States has never taken a position on sovereignty, but we have made it very clear that the islands are part of our mutual treaty obligations, and the obligation to defend Japan. We have certainly encouraged both Japan and China to seek peaceful resolution of any disagreements that they have in this area or others. It is in all of our interest for China and Japan to have stable, peaceful relations. And we have recommended to both that the United States is more than willing to host a trilateral, where we would bring Japan and China and their foreign ministers together to discuss a range of issues.”

[27] In Asia (Asia Foundation), John J. Brandon:  ‘Leaders to tackle Tough Issues at 2nd U.S-Asean Summit’, September 22, 2010; www.asean.org, Joint Statement of the Second Asean-US Leaders’ Meeting, New York, 24 September 2010.

[28] BBC News: “Robert Gates in China: Beijing seeks to ease US fears”, 10 January 2011; AFP - Dan De Luce: “Gates meets Hu in Beijing”, 11 January 2011; China Daily: “Xi Jinping met with U.S.Defense Secretary Robert Gates in Beijing” (quoting Xinhua) 10 January 2011; Telegraph.co.uk – Tim Ross and Holly Wattz: “Wikileaks – US vs. China in battle of anti-satellite space weapons”.

[29] USA Today: “Chinese Leader Hu Jintao to visit USA during tense times”, January 18, 2011; Time – Austin Ramzy: “Will Obama and Hu Jintao find a middle ground?”, January 18, 2011; Los Angeles Times – Don Lee and Paul Richter: “Chinese President Hu Jintao’s visit with Obama may be more show than substance”, January 19, 2011; The New York Times – Ian Johnson: “ For China, Relief after a successful trip”, January 21. 2011.

[30] www.crs.gov Tài liệu chi tiết về bang giao Mỹ-Việt cho đến 31 tháng 10 năm 2008 – Xem CRS Report for Congress: US – Vietnam Relations, Background and Issues for Congress [updated to October 31, 2008], by Mark E. Manyin, Specialist in Asian Affairs, Foreign Affairs, Defense and Trade Division, Congressional Research Service, Washington DC; và đến đầu tháng 7 năm 2010, U.S.-Vietnam Relations in 2010: Current Issues and Implications for U.S Policy (July 12, 2010), cùng tác giả.

[31] Đại sứ quán Mỹ tại Việt nam – http://vietnam.usembassy.gov/jointstatement_.html Joint Statement BetweenThe United States of America and The Socialist Republic of Vietnam, June 25, 2008 – Từ ngữ nguyên văn: “The two leaders were pleased with the successes of Vietnamese Americans and noted their contribution to the promotion of the relationship between the two countries. President Bush welcomed these contributions and reiterated the U.S. government’s support for Vietnam’s national sovereignty, security and territorial integrity.”

[32] Hmong Today – Chong Jones: “Vang Pao and the U.S. government, marriage and betrayal”, July 15, 2007; Channel 3000 & AP: “Vang Pao Arrested in California – Authorities: Pao Matermind in Violent Plot to overthrow Laos government”, June 6, 2007; Matt Ehling, MinnPost.com – “The Neutrality Act and the case of Vang Pao”, August 21, 2008; Nelson Rand: “CIA’s Lao Ally faces ‘outrageous’ charge”, May 03, 2009 (http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/KE08Ae01.html)

[33] U.S. Department of State, tài liệu đã dẫn; BBC Tiếng Việt: Lê Công Phụng – Việt Mỹ đang nhắm đến ‘quan hệ chiến lược’, ngày 25-12-2010.

[34] Times of India – Saibal Dasgupta: “China shaken by US move to sign nuclear deal with Vietnam”, August 6, 2010

[35] Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt nam (www.cpv.org.vn) ngày 12-02-2011 trích dẫn Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn, Cục trưởng Cục Tuyên Huấn & phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng và được Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh xác nhận ngày 16-02-2011.

[36] Bài nầy được phổ biến trong Đặc san Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai & Cửu Long, Số 5, do Dong Nai & Cuu Long Cultural Research Organisation Inc. xuất bản tại Sydney, Úc Đại Lợi, tháng 5-2011.

Last Updated on Saturday, 11 June 2011 08:33
 

Xem những bài viết khác của Tác giả Ls Lưu Tường Quang